2 thg 5, 2026

Ô nhiễm vi nhựa: Nguy cơ và khoảng trống quản lý

 


Ô nhiễm vi nhựa hiện nay như thế nào?

Ô nhiễm nhựa đang trở thành một thách thức môi trường nghiêm trọng trên toàn cầu. Theo ước tính của UNEP, mỗi phút, lượng nhựa tương đương một xe tải rác bị đổ ra đại dương. Theo thời gian, dưới tác động của các tác nhân vật lý trong môi trường, chất thải nhựa bị phân thành các mảnh nhỏ. Quá trình phân rã của các sản phẩm chứa nhựa đã tạo ra các loại hạt nhựa với kích thước khác nhau từ dưới dưới 1 µm đến dưới 100 nm (0,0001 mm) hay con gọi là nano nhựa và các mảnh nhựa có kích thước nhỏ hơn 5 mm còn gọi là vi nhựa vi nhựa (microplastics - MPs)   và nano nhựa (nanoplastics - NPs). Các hạt vi nhựa  với kích thước từ và nano nhựa  theo vòng tuần hoàn vật chất đã xâm nhập vào hầu hết các thành phần môi trường trên Trái Đất. Nó có mặt từ đại dương sâu thẳm đến không khí đô thị và thực phẩm hàng ngày (Zhu et al., 2024). Chính vì thế, thông quan hoạt động sống, con người tiếp xúc với các hạt này qua ba con đường chính gồm ăn uống, hít thở và tiếp xúc qua da (Zhu et al., 2024). Cụ thể là vi nhựa trong nước uống, nano nhựa bay trong không khí và nhựa tiếp xúc trực tiếp với cơ thể (quần áo, thiết bị y tế, trang thiết bị hàng ngày. Ước tính lượng hạt vi nhựa nạp vào cơ thể đạt từ vài chục nghìn đến hàng trăm nghìn mỗi năm (39.000 đến 121.000 hạt) (Emenike et al., 2023). Các nguồn phát thải nhựa bao gồm phân mảnh rác thải nhựa dưới tác động tia UV, vi sợi từ quần áo tổng hợp, hạt nhựa công nghiệp và mài mòn lốp xe (Zhu et al., 2024)... Đặc biệt, vi nhựa tồn tại trong bộ ba phơi nhiễm, kết hợp với hóa chất phụ gia và chất ô nhiễm hấp phụ trên bề mặt (Alijagic et al., 2024).

Ảnh 1. Phơi nhiễm vi nhựa và nano nhựa

Nguồn: Ảnh do AI sáng tạo dựa trên thông tin đầu vào từ nghiên cứu của (Hernandez et al., 2019)

Tác động của ô nhiễm vi nhựa đối với môi trường, hệ sinh thái và sức khỏe con người

Đối với môi trường nói chung và hệ sinh thái, vi nhựa gây ra những hậu quả nghiêm trọng và kéo dài. Quá trình phân hủy diễn ra cực kỳ chậm: một túi ni lông được sử dụng chỉ trong 12 phút có thể mất tới 1.000 năm để phân hủy hoàn toàn do vậy chúng có rất nhiều thời gian để xâm nhập và tác động đến các quyển khác trong môi trường chung của trái đất; góp phần làm thay đổi thành phần và chức năng của các quyển này trong môi trường tự nhiên. Đối với sinh vật, các hạt vi nhựa gây hại cho cơ thể động vật biển khi chúng nhầm lẫn các hạt nhựa với thức ăn hoặc bị mắc kẹt trong các “bẫy” nhựa” khắp nơi trong đại dương. Theo ước tính thế giới có khoản 270 loài được ghi nhân tổn thương bởi ngư cụ “ma”, và khoảng 240 loài được ghi nhận nuốt phải nhựa. Trong khi đó các dự báo đến năm 2050 cho thấy nhựa và vi nhựa có thể ảnh ưởng đến khoảng 15% loài sinh vật biển (tương đương với khoảng 600 loài) . Đây là nguy cơ lớn dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học nghiêm trọng. Ngoài ra, theo chuỗi thức ăn, vi nhựa từ cơ thể sinh vật biển xâm nhập vào cơ thể động vật trên cạn cũng như con người.

Ảnh 2. Vi nhựa : nguồn gốc, phơi nhiễm và tác động đến con người

Nguồn: He et al., 2025

Ngoài ra, đối với đại dương, lượng ô nhiễm nhựa trong đại dương trôi nổi và tích tụ trên bề mặt nước ven đảo, nó góp phần ngăn chặn quá trình tương tác, trao đổi giữa bề mặt nước và khí quyển, làm suy yếu khả năng hấp thụ CO₂ của đại dương và thúc đẩy khủng hoảng khí hậu. Cuối cùng việc sản xuất nhựa nguyên sinh giải phóng lượng lớn khí nhà kính. Trong khi giảm sử dụng và tăng cường tái chế có thể cắt giảm tới đáng kể lượng phát thải CO₂ so với sản xuất mới.

Đối với con người, các nghiên cứu gần đây cho thấy các hạt nhựa xuất hiện ở hầu hết các bộ phận trong cơ thể con người và tạo ra nguy cơ với sức khỏe. Từ 2021 các nghiên cứu trên thế giới đã công bố phát hiện nhựa tồn tại trong nhau thai người (Ragusa et al., 2021) phân xu của trẻ em (Braun et al., 2021), sữa mẹ (Ragusa et al., 2021); và các bộ phận khác trên người trưởng thành như:, tim, , phổi (Han et al., 2021), mạch máu (Leslie et al., 2022),. não (Nihart et al., 2025). Sự tồn tại của các hạt nhựa trong cơ thể con người đã được chứng minh là tác động tiêu cực lên các hệ cơ quan chính như tiêu hóa, sinh sản và hô hấp, thần kinh (Chartres et al., 2024; Tang et al., 2024); và có mỗi liên hệ có ý nghĩa đối với một số bệnh như: stress oxy hóa (căng thẳng oxy hóa), viêm mãn tính, rối loạn nội tiết và tổn thương DNA, dẫn đến. Không chỉ thế nano nhựa có khả năng vượt qua hàng rào máu-não, gây tổn thương thần kinh nghiêm trọng và đóng vai trò véc-tơ vận chuyển mầm bệnh cùng chất độc (Prata et al., 2020; Winiarska et al., 2024). Do đó, cần có những khuyến cáo cụ thể cho việc tình trạng s dụng nhựa hiện nay để hạn chế sự phơi nhiễm của cơ thể con người nhằm hạn chế tác động đến cơ thể người và sinh vật.

Khoảng trống trong thể chế về quản lý ô nhiễm nhựa

Thực trạng thể chế quản lý cho thấy nhiều khoảng trống. Trên phạm vi toàn cầu chưa có công ước ràng buộc quy định ngưỡng giới hạn vi nhựa trong môi trường, Hiệp ước nhựa toàn cầu đang đàm phán chủ yếu tập trung giảm nhựa nguyên sinh. Các tiêu chuẩn chất lượng nước mặt, nước ngầm, đất nông nghiệp và không khí hiện hành hầu như không có chỉ tiêu vi nhựa. Phương pháp quan trắc và phân tích chưa thống nhất, thiếu chuẩn ISO (International Organization for Standardization) hay ASTM (American Society for Testing and Materials) được công nhận rộng rãi (Winiarska et al., 2024). Quản lý nguồn phát thải khuếch tán như bùn thải từ nhà máy xử lý nước thải và vi sợi từ giặt quần áo chưa đầy đủ, dẫn đến tăng tính tuần hoàn của chất ô nhiễm (Alijagic et al., 2024). Hơn nữa các đánh giá rủi ro sức khỏe chưa tích hợp vi nhựa với giá trị tham chiếu chính thức từ tổ chức Y tế thế giới WHO hay các cơ quan tương đương (Emenike et al., 2023). Một số quốc gia đang có theo dõi cụ thể về vi nhựa trong nước uống (Mỹ) và kế hoạch đo lượng đầu vào đầu ra vi nhựa trong bùn thải từ 2027 (EU).

Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ Môi trường 2020 và các QCVN hiện hành chỉ quản lý rác thải vĩ mô, chưa đưa vi nhựa vào danh mục quan trắc bắt buộc mà chỉ quy định chung về hàm lượng chất rắn lơ lửng lơ lửng (TSS), không có chỉ tiêu vi nhựa như số lượng hạt, loại polyme, kích thước, hình dạng tồn tại trong nước. Do đó, phần lớn vi nhựa và nano nhựa với kích thước nhỏ không được kiểm soát, dễ dàng xâm nhập vào môi trường đất, nước, không khí, sinh vật dẫn đến tác động tiêu cực.

Bình luận và trao đổi

Nhựa là một loại vật liệu tiện dụng và có nhiều đóng góp không thể phủ nhận. Tuy nhiên, việc quản lý chất thải nhựa và vấn đề ô nhiễm vi nhựa, nano nhựa cũng như những đánh giá nhằm lượng hóa tiêu chuẩn cho phép và khuyến nghị an toàn vẫn là khoảng trống. Đây là mấu chốt đ đưa ra các khuyến nghị về việc kiểm soát ô nhiễm nhựa trong môi trường đất, nước, không khí, sinh vật. Do vậy cần có sự tham gia của nhiều bên liên quan để  tăng cường giám sát tiêu chuẩn chỉ tiêu vi nhựa vì mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe con người. Trước hết, cần ưu tiên xây dựng phương pháp quan trắc chuẩn hóa phù hợp điều kiện địa phương, tiến hành đánh giá rủi ro sức khỏe định lượng để xác định ngưỡng an toàn, nghiên cứu hiệu quả – chi phí công nghệ lọc vi nhựa và khảo sát bản đồ phơi nhiễm theo vùng cũng như nhóm dân cư dễ tổn thương (Tang et al., 2024). Tiếp theo, cần có các nghiên cứu về thể chế chính sách nhằm đưa nồng độ vi nhựa vào tiêu chí đánh giá chất lượng môi trường nước, không khí và đất. Việc lấp đầy khoảng trống nghiên cứu trong lĩnh vực tự nhiên  cung cấp cơ sở khoa học cho các kiến nghị chính sách và xã hội.

Trong lĩnh vực khoa học xã hội cần nghiên cứu thể chế, chính sách quản lý chất thải nhựa sinh hoạt. Xây dựng sách hướng dẫn sử dụng cho sản phẩm chứa nhựa; nhận diện sản phẩm thân thiện với môi trường, thực hành các chiến lược R theo kinh tế tuần hoàn, nâng cao nhận thức xã hội về phơi nhiễm nhựa, tác động nhựa và cách thức sống chung hiệu quả. Để triển khai được những nhiệm vụ này cần có sự kết hợp linh hoạt giữa tài chính công và tư; hợp tác giữa các bên và doanh nghiệp nhựa theo cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR); tạo nền tảng vững chắc cho quản lý môi trường hiệu quả, bảo vệ sức khỏe con người và hướng tới một hệ sinh thái bền vững.

DungTTT

Tài liệu tham khảo

Alijagic, A., Suljević, D., Fočak, M., Sulejmanović, J., Šehović, E., Särndahl, E., & Engwall, M. (2024). The triple exposure nexus of microplastic particles, plastic-associated chemicals, and environmental pollutants from a human health perspective. Environment International, 188, 108736. https://doi.org/10.1016/j.envint.2024.108736

Braun, T., Ehrlich, L., Henrich, W., Koeppel, S., Lomako, I., Schwabl, P., & Liebmann, B. (2021). Detection of microplastic in human placenta and meconium in a clinical setting. Pharmaceutics, 13(7), 921.

Chartres, N., Cooper, C. B., Bland, G., Pelch, K. E., Gandhi, S. A., BakenRa, A., & Woodruff, T. J. (2024). Effects of Microplastic Exposure on Human Digestive, Reproductive, and Respiratory Health: A Rapid Systematic Review. Environmental Science & Technology, 58(52), 22843–22864. https://doi.org/10.1021/acs.est.3c09524

Emenike, E. C., Okorie, C. J., Ojeyemi, T., Egbemhenghe, A., Iwuozor, K. O., Saliu, O. D., Okoro, H. K., & Adeniyi, A. G. (2023). From oceans to dinner plates: The impact of microplastics on human health. Heliyon, 9(10), e20440. https://doi.org/10.1016/j.heliyon.2023.e20440

Han, Y., Song, Y., Kim, G. W., Ha, C., Lee, J., Kim, M., Son, H., Lee, G., Gautam, R., & Heo, Y. (2021). No prominent toxicity of polyethylene microplastics observed in neonatal mice following intratracheal instillation to dams during gestational and neonatal period. Toxicological Research, 37(4), 443–450. https://doi.org/10.1007/s43188-020-00086-7

He, Z., Shen, Z., Zhang, H., Na, C., & Bai, C. (2025). From exposure to oncogenesis: A review on the multifaceted roles of microplastics in tumor initiation and progression. Journal of Translational Medicine, 24(1), 73. https://doi.org/10.1186/s12967-025-07553-5

Hernandez, L. M., Xu, E. G., Larsson, H. C. E., Tahara, R., Maisuria, V. B., & Tufenkji, N. (2019). Plastic Teabags Release Billions of Microparticles and Nanoparticles into Tea. Environmental Science & Technology, 53(21), 12300–12310. https://doi.org/10.1021/acs.est.9b02540

Leslie, H. A., van Velzen, M. J. M., Brandsma, S. H., Vethaak, A. D., Garcia-Vallejo, J. J., & Lamoree, M. H. (2022). Discovery and quantification of plastic particle pollution in human blood. Environment International, 163, 107199. https://doi.org/10.1016/j.envint.2022.107199

Nihart, A. J., Garcia, M. A., El Hayek, E., Liu, R., Olewine, M., Kingston, J. D., Castillo, E. F., Gullapalli, R. R., Howard, T., & Bleske, B. (2025). Bioaccumulation of microplastics in decedent human brains. Nature Medicine, 31(4), 1114–1119.

Prata, J. C., da Costa, J. P., Lopes, I., Duarte, A. C., & Rocha-Santos, T. (2020). Environmental exposure to microplastics: An overview on possible human health effects. Science of The Total Environment, 702, 134455. https://doi.org/10.1016/j.scitotenv.2019.134455

Ragusa, A., Svelato, A., Santacroce, C., Catalano, P., Notarstefano, V., Carnevali, O., Papa, F., Rongioletti, M. C. A., Baiocco, F., Draghi, S., D’Amore, E., Rinaldo, D., Matta, M., & Giorgini, E. (2021). Plasticenta: First evidence of microplastics in human placenta. Environment International, 146, 106274. https://doi.org/10.1016/j.envint.2020.106274

Tang, K. H. D., Li, R., Li, Z., & Wang, D. (2024). Health risk of human exposure to microplastics: A review. Environmental Chemistry Letters, 22(3), 1155–1183. https://doi.org/10.1007/s10311-024-01727-1

Winiarska, E., Jutel, M., & Zemelka-Wiacek, M. (2024). The potential impact of nano- and microplastics on human health: Understanding human health risks. Environmental Research, 251, 118535. https://doi.org/10.1016/j.envres.2024.118535

Zhu, Y., Che, R., Zong, X., Wang, J., Li, J., Zhang, C., & Wang, F. (2024). A comprehensive review on the source, ingestion route, attachment and toxicity of microplastics/nanoplastics in human systems. Journal of Environmental Management, 352, 120039. https://doi.org/10.1016/j.jenvman.2024.120039

 

 



29 thg 4, 2026

Sử dụng năng lượng mặt trời hộ gia đình

 


Phát huy thế mạnh mạng lưới chuyên gia: Ứng dụng kỹ thuật Delphi nâng cao chất lượng nghiên cứu định tính

 Cách tiếp cận khách quan từ ý kiến chuyên gia

Trong nghiên cứu khoa học xã hội, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến chính sách hay phát triển bền vững, việc tổng hợp ý kiến chuyên gia thường gặp thách thức về sự khách quan. Các phương pháp toạ đàm hay hội thảo truyền thống dù sôi nổi nhưng dễ bị chi phối bởi tâm lý đám đông hoặc ảnh hưởng từ những cá nhân có uy tín lớn.

Khắc phục hạn chế này, kỹ thuật Delphi cho phép các chuyên gia làm việc độc lập và ẩn danh. Tại Viện ta, khả năng huy động được mạng lưới các chuyên gia đầu ngành tham gia vào quy trình này là một thuận lợi cơ bản. Điều này đảm bảo dữ liệu đầu vào của nghiên cứu luôn đa chiều, sâu sắc và không bị thiên lệch, tạo tiền đề vững chắc cho các kết luận khoa học.

Quy trình chặt chẽ để đạt sự đồng thuận

Text Box: Hình 1. Quá trình thực hiện tính toán mức độ đồng thuận của chuyên gia theo kỹ thuật Delphi

Khác với các phương pháp khảo sát thông thường chỉ thực hiện một lần, kỹ thuật Delphi đòi hỏi sự kiên trì qua một quy trình lặp lại, thường được nhóm nghiên cứu triển khai qua ba bước gắn kết: Đánh giá – phản hồi – đánh giá. Điểm ưu việt nhất nằm ở vòng cuối cùng, khi nhóm nghiên cứu gửi lại kết quả thống kê trung bình của tập thể cho từng cá nhân. Lúc này, các chuyên gia có cơ hội xem xét lại quan điểm của mình khi tham chiếu với ý kiến chung. Cơ chế này giúp lọc bỏ các nhận định cảm tính và hội tụ về một phương án có độ đồng thuận cao nhất.

Hiệu quả thực tiễn trong nghiên cứu phát triển bền vững

Tính hiệu quả của phương pháp Delphi đã được minh chứng qua thực tiễn triển khai các đề tài tại Viện, điển hình như trong các nghiên cứu gần đây về xác định tiêu chí quản lý chất thải nhựa theo kinh tế tuần hoàn, hay việc thực hiện ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) trong doanh nghiệp. Đối với một chủ đề mới, phức tạp và thiếu dữ liệu lịch sử như ESG, các mô hình định lượng truyền thống thường gặp khó khăn.

Thông qua kỹ thuật Delphi, nhóm nghiên cứu đã xây dựng thành công bộ tiêu chí đánh giá quản lý chất thải nhựa theo kinh tế tuần hoàn, xác định yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện ESG phù hợp với bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam. Kết quả thu được không chỉ là các chỉ số thống kê, mà là sự kết tinh kinh nghiệm thực tiễn của các chuyên gia.

Kết luận

Việc chuẩn hóa và áp dụng các kỹ thuật nghiên cứu hiện đại như Delphi đang góp phần quan trọng vào việc nâng cao hàm lượng khoa học trong các sản phẩm của Viện. Đây là hướng đi cần tiếp tục được nhân rộng để phát huy tối đa nguồn lực con người và mạng lưới chuyên gia sâu rộng mà Viện đang sở hữu. Không chỉ thể, chúng ta có thể khám phá sâu hơn về việc chuẩn hóa định nghĩa mức độ đồng thuận trong kỹ thuật Delphi trong các bài viết tiếp theo.