DTTT
Một chai nước nhựa được sử dụng trong một cuộc
họp chỉ tồn tại vài phút, nhưng có thể mất hàng trăm năm để phân hủy trong môi
trường. Mỗi ngày, hàng nghìn cuộc họp, hội nghị và hoạt động công vụ diễn ra
trên cả nước, đồng nghĩa với việc hàng triệu sản phẩm nhựa dùng một lần được
tiêu thụ. Nếu khu vực công thay đổi cách sử dụng những sản phẩm này, tác động
tích cực sẽ không chỉ dừng lại ở việc giảm lượng rác thải nhựa mà còn góp phần
định hình thói quen tiêu dùng bền vững trong toàn xã hội.
Nguồn: Ảnh
AI tạo trên cơ sở ý tưởng của tác giả.
Ô nhiễm nhựa đang trở thành một trong những
thách thức môi trường nghiêm trọng trên toàn cầu. Mỗi năm, hàng triệu tấn chất
thải nhựa phát sinh, trong đó một lượng lớn không được quản lý thu gom và xử lý
đúng cách, rò rỉ ra môi trường gây ô nhiễm
đất, sông, biển và ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái cũng như sức khỏe con
người (Trịnh Thị Tuyết Dung, 2026). Việt Nam là quốc gia ven biển với tốc độ đô
thị hóa và tiêu dùng ngày càng tăng, vì vậy việc giảm thiểu rác thải nhựa, đặc
biệt là nhựa dùng một lần, đã trở thành yêu cầu cấp thiết trong chiến lược phát
triển bền vững. Theo tính toán, Việt Nam là quốc gia có lượng phát thải nhựa
trên biển thuộc nhóm dẫn đầu (Meijer và cộng sự, 2021). Hơn nữa 80% lượng chất
thải nhựa biển xuất phát từ đất liền (MsKinsey & Company và Ocean
Conservancy, 2015), chính vì vậy các giải pháp giảm tiêu dùng nhựa và quản lý
chất thải nhựa là hết sức cần thiết đối với quốc gia hướng ra phía biển như Việt
Nam.
Trong bối cảnh đó, ngày 20/8/2020, Thủ tướng
Chính phủ ban hành Chỉ thị số 33/CT-TTg về tăng cường quản lý, tái sử dụng, tái
chế, xử lý và giảm thiểu chất thải nhựa. Trong đó, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ
thị tới: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Cụ thể yêu cầu các cơ quan nhà nước,
đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc thực hiện một số các hoạt động cụ thể hướng đến giảm phát sinh chất thải nhựa.
Không chỉ thể, Chỉ thị còn khẳng định vai trò tiên phong của các cơ quan nhà nước
trong việc thay đổi mô hình tiêu dùng, góp phần lan tỏa lối sống và phương thức
quản lý thân thiện với môi trường đến toàn xã hội. Điều này vai trò tiên phong
của các cơ quan nhà nước thực thi chính sách mà còn là lực lượng dẫn dắt quá
trình chuyển đổi sang mô hình phát triển xanh. Chỉ thị này là cơ sở quan trọng
để các bên liên quan có trách nhiệm thực hiện trong phạm vi trách nhiệm của
mình.
1.
Từ giảm nhựa đến tư duy kinh tế tuần hoàn
Điểm đáng chú ý là, mặc dù Chỉ thị số 33
không đề cập trực tiếp đến khái niệm kinh tế tuần hoàn, nhưng nhiều nội dung của
Chỉ thị đã phản ánh rõ tư duy cốt lõi của mô hình phát triển này. Thay vì chỉ tập
trung xử lý chất thải sau khi phát sinh, Chỉ thị hướng đến việc hạn chế tiêu
dùng không cần thiết, kéo dài vòng đời sản phẩm và sử dụng tài nguyên hiệu quả
hơn. Đây cũng chính là sự chuyển từ mô hình “khai thác – sử dụng – thải bỏ”
sang mô hình sử dụng tài nguyên hiệu quả và kéo dài vòng đời sản phẩm. Nếu nhìn
dưới góc độ khung R của kinh tế tuần hoàn trong quản lý chất thải nhựa, các nội
dung của Chỉ thị có thể được diễn giải như sau:
-
Rethink (Suy nghĩ lại): Truyền thông và tập
huấn nâng cao nhận thức. Thay đổi nhận thức về sự tiện lợi của nhựa dùng một lần;
xem xét lại nhu cầu sử dụng các sản phẩm không thực sự cần thiết trong hoạt động
công vụ.
-
Refuse (Từ chối): Hạn chế hoặc không sử dụng sản
phẩm nhựa dùng một lần không cần thiết như chai nước nhựa, cốc nhựa, ống hút nhựa,
hộp xốp và các trong hoạt động công cụ (như hội nghị, hội thảo…) và ưu tiên các
giải pháp có tác động môi trường thấp.
-
Reduce (Giảm thiểu): Giảm lượng vật tư nhựa
tiêu thụ thông qua thay đổi hình thức phục vụ nước uống, sử dụng văn phòng phẩm
hợp lý.
-
Recycle (Tái chế): Thực hiện phân loại chất
thải tại đơn vị, tạo điều kiện cho việc thu gom và tái chế, ưu tiên sử dụng sản
phẩm tái chế trong các hoạt động tại đơn vị.
Có thể thấy, Chỉ thị số 33 không chỉ hướng đến
mục tiêu giảm sử dụng nhựa, mà còn từng bước hình thành một phương thức quản lý
tài nguyên theo hướng tuần hoàn. Ý nghĩa lớn nhất của Chỉ thị không nằm ở việc
thay thế một loại vật liệu bằng vật liệu khác, mà ở việc thay đổi tư duy tiêu
dùng và quản trị trong khu vực công.
2.
Từ chính sách đến những thay đổi trong thực
tiễn
Sau gần 5 năm thực hiện Chỉ thị số 33/CT-TTg,
nhiều bộ, ngành, địa phương và cơ quan hành chính các cấp đã từng bước cụ thể
hóa yêu cầu giảm thiểu chất thải nhựa thành những thay đổi trong hoạt động thường
xuyên. Điều này cho thấy Chỉ thị không chỉ dừng lại ở vai trò là một văn bản chỉ
đạo, mà đã từng bước định hướng lại cách thức tổ chức các hoạt động công vụ
theo hướng sử dụng tài nguyên tiết kiệm và có trách nhiệm hơn.
Một trong những thay đổi dễ nhận thấy là việc
thay thế dần các sản phẩm nhựa dùng một lần trong các cuộc họp, hội nghị và sự
kiện. Nếu trước đây, việc bố trí sẵn chai nước nhựa cho mỗi đại biểu gần như là
thông lệ, thì hiện nay nhiều cơ quan đã chuyển sang sử dụng bình thủy tinh, cốc
sứ, cốc thủy tinh hoặc hệ thống máy lọc nước tập trung. Sự thay đổi này không
đơn thuần là thay thế một loại vật liệu bằng vật liệu khác, mà phản ánh sự chuyển
dịch từ tư duy tiêu dùng thuận tiện sang tư duy sử dụng tuần hoàn, trong đó ưu
tiên các sản phẩm có thể tái sử dụng nhiều lần và giảm thiểu chất thải phát
sinh ngay từ đầu.
Ảnh 1: Ảnh Hội nghị tại Viện Địa lý nhân văn và Phát triển
bền vững
(Nguồn website Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững)
Ảnh 2. Trao đổi chuyên môn tại Viện Địa lý
nhân văn và Phát triển bền vững không sử dụng chai nước dùng 1 lần; Nguồn: Nguyễn
Hồng Anh
Không chỉ dừng lại ở việc thay thế vật dụng,
nhiều hoạt động hành chính cũng đang được tổ chức theo hướng giảm tiêu dùng nhựa
và tiết kiệm tài nguyên. Tại nhiều hội nghị, tài liệu giấy và túi nhựa đựng tài
liệu được thay bằng mã QR hoặc tài liệu điện tử; các túi vải có thể sử dụng nhiều
lần dần thay thế túi nhựa phát cho đại biểu. Những thay đổi này cho thấy chuyển
đổi xanh trong khu vực công không chỉ là thay đổi vật liệu mà còn là đổi mới
phương thức tổ chức công việc theo hướng hiện đại và hiệu quả hơn.
Giá trị lớn nhất mà Chỉ thị số 33 mang lại
không nằm ở số lượng chai nước nhựa hay cốc nhựa được cắt giảm, mà ở sự thay đổi
trong nhận thức và hành vi của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Khi các thực
hành tiêu dùng bền vững trở thành một phần của hoạt động công vụ hằng ngày,
chúng có khả năng lan tỏa đến gia đình, cộng đồng và các tổ chức khác. Chính hiệu
ứng lan tỏa này tạo nên ý nghĩa lâu dài của Chỉ thị: khu vực công không chỉ thực
hiện chính sách mà còn góp phần hình thành những chuẩn mực mới về tiêu dùng và
quản lý tài nguyên trong xã hội.
Ảnh 3: Tọa đàm tại Viện Chiến lược chính sách Tài nguyên
và môi trường
3. Những
rào cản cần tiếp tục tháo gỡ
Sau gần 5 năm triển khai, Chỉ thị số
33/CT-TTg đã tạo chuyển biến tích cực trong giảm tiêu dùng nhựa tại khu vực
công. Tuy nhiên, mức độ thực hiện giữa các bộ, ngành và địa phương vẫn chưa đồng
đều, cho thấy quá trình chuyển đổi không chỉ là thay thế các sản phẩm nhựa dùng
một lần mà còn là thay đổi tư duy quản trị và văn hóa tổ chức.
Rào cản lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở nguồn
lực tài chính hay thói quen sử dụng nhựa, mà còn ở việc thiếu một cơ chế thực
hiện thống nhất. Nhiều hoạt động giảm nhựa vẫn mang tính riêng lẻ, chưa được lồng
ghép vào quy trình mua sắm công, quản lý tài sản hay đánh giá kết quả hoạt động
của cơ quan. Quan trọng hơn, đến nay chưa có bộ tiêu chí và cơ chế giám sát thống
nhất để đánh giá mức độ thực hiện Chỉ thị trên phạm vi toàn quốc. Điều này khiến
việc đo lường hiệu quả chính sách, so sánh giữa các đơn vị và nhân rộng các mô
hình tốt còn gặp nhiều khó khăn.
Những hạn chế trên cho thấy, giai đoạn tiếp
theo cần chuyển trọng tâm từ khuyến khích thực hiện sang đo lường và nâng cao
hiệu quả thực thi, coi đây là điều kiện để Chỉ thị 33 tạo ra những thay đổi lâu
dài trong quản trị công và tiêu dùng bền vững.
4.
Một số kiến nghị
Đối với các cơ quan quản lý, cần hoàn thiện
cơ chế thực hiện Chỉ thị số 33 theo hướng thể chế hóa các yêu cầu giảm tiêu
dùng nhựa trong quản trị công. Các tiêu chí về giảm nhựa và sử dụng sản phẩm
thân thiện với môi trường cần được tích hợp vào quy trình mua sắm công, quản lý
tài sản và đánh giá kết quả hoạt động của cơ quan, thay vì chỉ triển khai dưới
hình thức vận động hoặc hưởng ứng.
Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, cần chủ
động xây dựng mô hình “đơn vị công xanh”, trong đó giảm tiêu dùng nhựa
được xem là một nội dung của quản trị bền vững. Thông qua việc thực hiện mua sắm
xanh, sử dụng sản phẩm thay thế và xây dựng các mô hình thực hành tốt, khu vực
công sẽ phát huy vai trò dẫn dắt và tạo hiệu ứng lan tỏa đối với cộng đồng và
thị trường.
Đối với các đơn vị nghiên cứu, đây cũng là thời
điểm cần thúc đẩy các nghiên cứu đánh giá chính sách sau gần 5 năm thực hiện Chỉ
thị 33. Trước hết, cần có các nghiên cứu độc lập đánh giá mức độ thực hiện Chỉ
thị giữa các bộ, ngành và địa phương nhằm cung cấp bằng chứng về những kết quả
đạt được cũng như các rào cản trong quá trình triển khai. Bên cạnh đó, cần
nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện Chỉ thị trong khu vực công,
đặc biệt là vai trò của thể chế, văn hóa tổ chức và hành vi của cán bộ, công chức.
Một hướng nghiên cứu quan trọng khác là đánh giá tiềm năng của mua sắm công
xanh trong thúc đẩy giảm tiêu dùng nhựa và phát triển thị trường sản phẩm thân
thiện với môi trường. Đồng thời, cần xây dựng bộ chỉ số đánh giá việc thực hiện
Chỉ thị số 33, làm cơ sở cho công tác giám sát, so sánh kết quả giữa các đơn vị
và hoàn thiện chính sách trong giai đoạn tiếp theo.
Tài
liệu tham khảo
Thủ
tướng chính phủ, 2022, Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 20/08/2020 về tăng cường quản
lý, tái sử dụng, tái chế, xử lý và giảm thiểu chất thải nhựa.
Trịnh
Thị Tuyết Dung, 2026, Ô nhiễm vi
nhựa: Nguy cơ và khoảng trống quản lý, https://ihs.vass.gov.vn/nghien-cuu-khoa-hoc/o-nhiem-vi-nhua-nguy-co-va-khoang-trong-quan-ly-561468
Meijer,
L. J. J., Van Emmerik, T., Van Der Ent, R., Schmidt, C., & Lebreton, L.
(2021). More than 1000 rivers account for 80% of global riverine plastic
emissions into the ocean. Science Advances, 7(18), eaaz5803. https://doi.org/10.1126/sciadv.aaz5803
MsKinsey,
& Company and Ocean Conservancy. (2015). Stemming the tide: Land-based
strategies for a plasitc-free ocean (p. 48).