Hiển thị các bài đăng có nhãn lối sống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lối sống. Hiển thị tất cả bài đăng

2 thg 5, 2026

Ô nhiễm vi nhựa: Nguy cơ và khoảng trống quản lý

 


Ô nhiễm vi nhựa hiện nay như thế nào?

Ô nhiễm nhựa đang trở thành một thách thức môi trường nghiêm trọng trên toàn cầu. Theo ước tính của UNEP, mỗi phút, lượng nhựa tương đương một xe tải rác bị đổ ra đại dương. Theo thời gian, dưới tác động của các tác nhân vật lý trong môi trường, chất thải nhựa bị phân thành các mảnh nhỏ. Quá trình phân rã của các sản phẩm chứa nhựa đã tạo ra các loại hạt nhựa với kích thước khác nhau từ dưới dưới 1 µm đến dưới 100 nm (0,0001 mm) hay con gọi là nano nhựa và các mảnh nhựa có kích thước nhỏ hơn 5 mm còn gọi là vi nhựa vi nhựa (microplastics - MPs)   và nano nhựa (nanoplastics - NPs). Các hạt vi nhựa  với kích thước từ và nano nhựa  theo vòng tuần hoàn vật chất đã xâm nhập vào hầu hết các thành phần môi trường trên Trái Đất. Nó có mặt từ đại dương sâu thẳm đến không khí đô thị và thực phẩm hàng ngày (Zhu et al., 2024). Chính vì thế, thông quan hoạt động sống, con người tiếp xúc với các hạt này qua ba con đường chính gồm ăn uống, hít thở và tiếp xúc qua da (Zhu et al., 2024). Cụ thể là vi nhựa trong nước uống, nano nhựa bay trong không khí và nhựa tiếp xúc trực tiếp với cơ thể (quần áo, thiết bị y tế, trang thiết bị hàng ngày. Ước tính lượng hạt vi nhựa nạp vào cơ thể đạt từ vài chục nghìn đến hàng trăm nghìn mỗi năm (39.000 đến 121.000 hạt) (Emenike et al., 2023). Các nguồn phát thải nhựa bao gồm phân mảnh rác thải nhựa dưới tác động tia UV, vi sợi từ quần áo tổng hợp, hạt nhựa công nghiệp và mài mòn lốp xe (Zhu et al., 2024)... Đặc biệt, vi nhựa tồn tại trong bộ ba phơi nhiễm, kết hợp với hóa chất phụ gia và chất ô nhiễm hấp phụ trên bề mặt (Alijagic et al., 2024).

Ảnh 1. Phơi nhiễm vi nhựa và nano nhựa

Nguồn: Ảnh do AI sáng tạo dựa trên thông tin đầu vào từ nghiên cứu của (Hernandez et al., 2019)

Tác động của ô nhiễm vi nhựa đối với môi trường, hệ sinh thái và sức khỏe con người

Đối với môi trường nói chung và hệ sinh thái, vi nhựa gây ra những hậu quả nghiêm trọng và kéo dài. Quá trình phân hủy diễn ra cực kỳ chậm: một túi ni lông được sử dụng chỉ trong 12 phút có thể mất tới 1.000 năm để phân hủy hoàn toàn do vậy chúng có rất nhiều thời gian để xâm nhập và tác động đến các quyển khác trong môi trường chung của trái đất; góp phần làm thay đổi thành phần và chức năng của các quyển này trong môi trường tự nhiên. Đối với sinh vật, các hạt vi nhựa gây hại cho cơ thể động vật biển khi chúng nhầm lẫn các hạt nhựa với thức ăn hoặc bị mắc kẹt trong các “bẫy” nhựa” khắp nơi trong đại dương. Theo ước tính thế giới có khoản 270 loài được ghi nhân tổn thương bởi ngư cụ “ma”, và khoảng 240 loài được ghi nhận nuốt phải nhựa. Trong khi đó các dự báo đến năm 2050 cho thấy nhựa và vi nhựa có thể ảnh ưởng đến khoảng 15% loài sinh vật biển (tương đương với khoảng 600 loài) . Đây là nguy cơ lớn dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học nghiêm trọng. Ngoài ra, theo chuỗi thức ăn, vi nhựa từ cơ thể sinh vật biển xâm nhập vào cơ thể động vật trên cạn cũng như con người.

Ảnh 2. Vi nhựa : nguồn gốc, phơi nhiễm và tác động đến con người

Nguồn: He et al., 2025

Ngoài ra, đối với đại dương, lượng ô nhiễm nhựa trong đại dương trôi nổi và tích tụ trên bề mặt nước ven đảo, nó góp phần ngăn chặn quá trình tương tác, trao đổi giữa bề mặt nước và khí quyển, làm suy yếu khả năng hấp thụ CO₂ của đại dương và thúc đẩy khủng hoảng khí hậu. Cuối cùng việc sản xuất nhựa nguyên sinh giải phóng lượng lớn khí nhà kính. Trong khi giảm sử dụng và tăng cường tái chế có thể cắt giảm tới đáng kể lượng phát thải CO₂ so với sản xuất mới.

Đối với con người, các nghiên cứu gần đây cho thấy các hạt nhựa xuất hiện ở hầu hết các bộ phận trong cơ thể con người và tạo ra nguy cơ với sức khỏe. Từ 2021 các nghiên cứu trên thế giới đã công bố phát hiện nhựa tồn tại trong nhau thai người (Ragusa et al., 2021) phân xu của trẻ em (Braun et al., 2021), sữa mẹ (Ragusa et al., 2021); và các bộ phận khác trên người trưởng thành như:, tim, , phổi (Han et al., 2021), mạch máu (Leslie et al., 2022),. não (Nihart et al., 2025). Sự tồn tại của các hạt nhựa trong cơ thể con người đã được chứng minh là tác động tiêu cực lên các hệ cơ quan chính như tiêu hóa, sinh sản và hô hấp, thần kinh (Chartres et al., 2024; Tang et al., 2024); và có mỗi liên hệ có ý nghĩa đối với một số bệnh như: stress oxy hóa (căng thẳng oxy hóa), viêm mãn tính, rối loạn nội tiết và tổn thương DNA, dẫn đến. Không chỉ thế nano nhựa có khả năng vượt qua hàng rào máu-não, gây tổn thương thần kinh nghiêm trọng và đóng vai trò véc-tơ vận chuyển mầm bệnh cùng chất độc (Prata et al., 2020; Winiarska et al., 2024). Do đó, cần có những khuyến cáo cụ thể cho việc tình trạng sủ dụng nhựa hiện nay để hạn chế sự phơi nhiễm của cơ thể con người nhằm hạn chế tác động đến cơ thể người và sinh vật.

Khoảng trống trong thể chế về quản lý ô nhiễm nhựa

Thực trạng thể chế quản lý cho thấy nhiều khoảng trống. Trên phạm vi toàn cầu chưa có công ước ràng buộc quy định ngưỡng giới hạn vi nhựa trong môi trường, Hiệp ước nhựa toàn cầu đang đàm phán chủ yếu tập trung giảm nhựa nguyên sinh. Các tiêu chuẩn chất lượng nước mặt, nước ngầm, đất nông nghiệp và không khí hiện hành hầu như không có chỉ tiêu vi nhựa. Phương pháp quan trắc và phân tích chưa thống nhất, thiếu chuẩn ISO (International Organization for Standardization) hay ASTM (American Society for Testing and Materials) được công nhận rộng rãi (Winiarska et al., 2024). Quản lý nguồn phát thải khuếch tán như bùn thải từ nhà máy xử lý nước thải và vi sợi từ giặt quần áo chưa đầy đủ, dẫn đến tăng tính tuần hoàn của chất ô nhiễm (Alijagic et al., 2024). Hơn nữa các đánh giá rủi ro sức khỏe chưa tích hợp vi nhựa với giá trị tham chiếu chính thức từ tổ chức Y tế thế giới WHO hay các cơ quan tương đương (Emenike et al., 2023). Một số quốc gia đang có theo dõi cụ thể về vi nhựa trong nước uống (Mỹ) và kế hoạch đo lượng đầu vào đầu ra vi nhựa trong bùn thải từ 2027 (EU).

Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ Môi trường 2020 và các QCVN hiện hành chỉ quản lý rác thải vĩ mô, chưa đưa vi nhựa vào danh mục quan trắc bắt buộc mà chỉ quy định chung về hàm lượng chất rắn lơ lửng lơ lửng (TSS), không có chỉ tiêu vi nhựa như số lượng hạt, loại polyme, kích thước, hình dạng tồn tại trong nước. Do đó, phần lớn vi nhựa và nano nhựa với kích thước nhỏ không được kiểm soát, dễ dàng xâm nhập vào môi trường đất, nước, không khí, sinh vật dẫn đến tác động tiêu cực.

Bình luận và trao đổi

Nhựa là một loại vật liệu tiện dụng và có nhiều đóng góp không thể phủ nhận. Tuy nhiên, việc quản lý chất thải nhựa và vấn đề ô nhiễm vi nhựa, nano nhựa cũng như những đánh giá nhằm lượng hóa tiêu chuẩn cho phép và khuyến nghị an toàn vẫn là khoảng trống. Đây là mấu chốt để đưa ra các khuyến nghị về việc kiểm soát ô nhiễm nhựa trong môi trường đất, nước, không khí, sinh vật. Do vậy cần có sự tham gia của nhiều bên liên quan để  tăng cường giám sát tiêu chuẩn chỉ tiêu vi nhựa vì mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe con người. Trước hết, cần ưu tiên xây dựng phương pháp quan trắc chuẩn hóa phù hợp điều kiện địa phương, tiến hành đánh giá rủi ro sức khỏe định lượng để xác định ngưỡng an toàn, nghiên cứu hiệu quả – chi phí công nghệ lọc vi nhựa và khảo sát bản đồ phơi nhiễm theo vùng cũng như nhóm dân cư dễ tổn thương (Tang et al., 2024). Tiếp theo, cần có các nghiên cứu về thể chế chính sách nhằm đưa nồng độ vi nhựa vào tiêu chí đánh giá chất lượng môi trường nước, không khí và đất. Việc lấp đầy khoảng trống nghiên cứu trong lĩnh vực tự nhiên  cung cấp cơ sở khoa học cho các kiến nghị chính sách và xã hội.

Trong lĩnh vực khoa học xã hội cần nghiên cứu thể chế, chính sách quản lý chất thải nhựa sinh hoạt. Xây dựng sách hướng dẫn sử dụng cho sản phẩm chứa nhựa; nhận diện sản phẩm thân thiện với môi trường, thực hành các chiến lược R theo kinh tế tuần hoàn, nâng cao nhận thức xã hội về phơi nhiễm nhựa, tác động nhựa và cách thức sống chung hiệu quả. Để triển khai được những nhiệm vụ này cần có sự kết hợp linh hoạt giữa tài chính công và tư; hợp tác giữa các bên và doanh nghiệp nhựa theo cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR); tạo nền tảng vững chắc cho quản lý môi trường hiệu quả, bảo vệ sức khỏe con người và hướng tới một hệ sinh thái bền vững.

DungTTT

Tài liệu tham khảo

Alijagic, A., Suljević, D., Fočak, M., Sulejmanović, J., Šehović, E., Särndahl, E., & Engwall, M. (2024). The triple exposure nexus of microplastic particles, plastic-associated chemicals, and environmental pollutants from a human health perspective. Environment International, 188, 108736. https://doi.org/10.1016/j.envint.2024.108736

Braun, T., Ehrlich, L., Henrich, W., Koeppel, S., Lomako, I., Schwabl, P., & Liebmann, B. (2021). Detection of microplastic in human placenta and meconium in a clinical setting. Pharmaceutics, 13(7), 921.

Chartres, N., Cooper, C. B., Bland, G., Pelch, K. E., Gandhi, S. A., BakenRa, A., & Woodruff, T. J. (2024). Effects of Microplastic Exposure on Human Digestive, Reproductive, and Respiratory Health: A Rapid Systematic Review. Environmental Science & Technology, 58(52), 22843–22864. https://doi.org/10.1021/acs.est.3c09524

Emenike, E. C., Okorie, C. J., Ojeyemi, T., Egbemhenghe, A., Iwuozor, K. O., Saliu, O. D., Okoro, H. K., & Adeniyi, A. G. (2023). From oceans to dinner plates: The impact of microplastics on human health. Heliyon, 9(10), e20440. https://doi.org/10.1016/j.heliyon.2023.e20440

Han, Y., Song, Y., Kim, G. W., Ha, C., Lee, J., Kim, M., Son, H., Lee, G., Gautam, R., & Heo, Y. (2021). No prominent toxicity of polyethylene microplastics observed in neonatal mice following intratracheal instillation to dams during gestational and neonatal period. Toxicological Research, 37(4), 443–450. https://doi.org/10.1007/s43188-020-00086-7

He, Z., Shen, Z., Zhang, H., Na, C., & Bai, C. (2025). From exposure to oncogenesis: A review on the multifaceted roles of microplastics in tumor initiation and progression. Journal of Translational Medicine, 24(1), 73. https://doi.org/10.1186/s12967-025-07553-5

Hernandez, L. M., Xu, E. G., Larsson, H. C. E., Tahara, R., Maisuria, V. B., & Tufenkji, N. (2019). Plastic Teabags Release Billions of Microparticles and Nanoparticles into Tea. Environmental Science & Technology, 53(21), 12300–12310. https://doi.org/10.1021/acs.est.9b02540

Leslie, H. A., van Velzen, M. J. M., Brandsma, S. H., Vethaak, A. D., Garcia-Vallejo, J. J., & Lamoree, M. H. (2022). Discovery and quantification of plastic particle pollution in human blood. Environment International, 163, 107199. https://doi.org/10.1016/j.envint.2022.107199

Nihart, A. J., Garcia, M. A., El Hayek, E., Liu, R., Olewine, M., Kingston, J. D., Castillo, E. F., Gullapalli, R. R., Howard, T., & Bleske, B. (2025). Bioaccumulation of microplastics in decedent human brains. Nature Medicine, 31(4), 1114–1119.

Prata, J. C., da Costa, J. P., Lopes, I., Duarte, A. C., & Rocha-Santos, T. (2020). Environmental exposure to microplastics: An overview on possible human health effects. Science of The Total Environment, 702, 134455. https://doi.org/10.1016/j.scitotenv.2019.134455

Ragusa, A., Svelato, A., Santacroce, C., Catalano, P., Notarstefano, V., Carnevali, O., Papa, F., Rongioletti, M. C. A., Baiocco, F., Draghi, S., D’Amore, E., Rinaldo, D., Matta, M., & Giorgini, E. (2021). Plasticenta: First evidence of microplastics in human placenta. Environment International, 146, 106274. https://doi.org/10.1016/j.envint.2020.106274

Tang, K. H. D., Li, R., Li, Z., & Wang, D. (2024). Health risk of human exposure to microplastics: A review. Environmental Chemistry Letters, 22(3), 1155–1183. https://doi.org/10.1007/s10311-024-01727-1

Winiarska, E., Jutel, M., & Zemelka-Wiacek, M. (2024). The potential impact of nano- and microplastics on human health: Understanding human health risks. Environmental Research, 251, 118535. https://doi.org/10.1016/j.envres.2024.118535

Zhu, Y., Che, R., Zong, X., Wang, J., Li, J., Zhang, C., & Wang, F. (2024). A comprehensive review on the source, ingestion route, attachment and toxicity of microplastics/nanoplastics in human systems. Journal of Environmental Management, 352, 120039. https://doi.org/10.1016/j.jenvman.2024.120039

 

 



13 thg 7, 2019

Văn hóa, lối sống và Biến đổi khí hậu P2.6 Khung khái niệm

1.1.  Văn hóa
Văn hóa là một khái niệm phức tạp, có nhiều cách hiểu và đã tạo ra tranh luận trong nhều thế kỉ. Khái niệm văn hóa xuất hiện lần đầu tiên từ thế kỷ XIII. Sau đó đã có nhiều quan niệm về văn hóa của các nhà khoa học Đức, Pháp, Mỹ hay các học thuyết và trường phái nghiên cứu khác nhau như: Tylor về thuyết phổ quát văn hóa, Boas về học thuyết đặc thù văn hóa, Durkhem về học thuyết thống thất các sự kiện văn hóa, Lesvy-Bruhl với học thuyết tiếp cận khác biệt, Kroeber với học thuyết truyền bá văn hóa, Malinowski với học thuyết phân tích chức năng văn hóa… Từ năm 1953 đã thống kê được 164 khái niệm về văn hóa (Krolber A và Kluckholn C, 1953). Khái niệm văn hóa phát triển cùng với quá trình thực tại, dưới các góc độ khác nhau các nhà khoa học cũng đưa ra nhiều loại khái niệm, định nghĩa khác nhau về văn hóa. Nhìn chung có 2 loại định nghĩa về văn hóa là kiểu định nghĩa theo lối miêu tả và định nghĩa theo lối nêu lên đặc trưng. Định nghĩa miêu tả thường liệt kê các thành tố còn định nghĩa đặc trưng đi theo 3 trường phái: coi văn hóa là những kết quả, những quá trình hay là những quan hệ (Trần Ngọc Thêm, 2001). Theo một khái niệm về văn hóa được coi là chuẩn theo đánh giá của Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn (1952) thì văn hóa là “toàn bộ những tri thức, những tín ngưỡng, những nghệ thuật, những giá trị, những luật lệ, phong tục và tất cả những năng lực và tập quán khác mà con người với tư cách thành viên của xã hội nắm bắt được” do Edward B. Tylor đưa ra năm 1871. Ở định nghĩa này, tác giả cố gắng cụ thể hóa các thành phần cũng như là yếu tố của văn hóa theo kiểu liệt kê và diễn giải những gì mà con người nhận thức được.
Một khái niệm khác về văn hóa do nhà nhân học Charles Keyes (1995, tr. 9),  cho rằng: “Văn hóa vừa là biểu hiện của sự thích ứng của con người đối với bối cảnh sống của họ, vừa là một tập hợp những bối cảnh mà con người phải thích ứng”. Khái niệm đưa 2 vấn đề: Thứ nhất và biểu hiện về sự thích ứng của con người đối với hoàn cảnh sống và thứ 2 đó là những bối cảnh mà con người thích ứng. Gắn văn hóa đối với biến đổi khí hậu thì bối cảnh mà con người cần phải thích ứng chính là biến đổi khí hậu và biểu hiện của sự thích ứng của con người đối với bối cảnh biến đổi khí hậu đó chính là những thể hiện qua lối sống và phản ánh cụ thể qua hành vi của cá nhân cũng như của cộng đồng. Khác với khái niệm được đưa ra bởi Edward B. Tylor là cố gắng liệt kê, khái niệm của Charles mang tính tổng quát theo nhóm vấn đề. Khái niệm của Charles Keyes chỉ đề cập đến thích ứng tức phản ứng lại mang tính thụ động theo hoàn cảnh sống. Trong khi đó, hiện tại hoạt động của ứng phó với BĐKH còn mang tính chủ động bao gồm cả hoạt động giảm thiểu và thích ứng.
Trong nghiên cứu, tác giả tiếp cận văn hóa dưới góc độ xã hội học, coi văn hóa là những kết quả nhất định bao gồm giá trị, truyền thống, nếp sống, chuẩn mực, tư tưởng, thiết chế xã hội, biểu trưng, ký hiện thông tin … mà một cộng đồng đã sáng tạo, kế thừa, tích lũy (Trần Ngọc Thêm, 2001). Tập trung vào nhận thức của con người về biến đổi khí hậu và mối quan hệ của lối sống và biến đổi khí hậu.
Khái niệm lối sống nhìn chung có nhiều cách sử dụng và cách hiểu khác nhau. Trong xã hội học Anh lối sống (lifestyle) thường được dùng trong những tranh luận về bản chất của cơ cấu giai cấp nước Anh. Hoặc trong một ngữ cảnh nào đó được sử dụng để nói về cách thức sống giữa thành thị và nông thôn. Đối với các nhà xã hội học lỗi lạc trong lịch sử như Max Werber. Ông tuy không đề cập trực tiếp tới khái niệm lối sống nhưng đề cập tới lối sống đặc thù của những nhóm xã hội mà ông gọi với thuật ngữ là phong cách sống của những giai cấp đặc thù (Mai Thị Kim Thanh, 2011).
Ở Việt Nam, luận giải khái niệm lối sống trên cơ sở lý luận của lối sống và cho rằng khái niệm lối sống ở Việt Nam bắt nguồn từ danh từ ghép gồm từ lối và từ sống. Lối là lề lối, thể thức, kiểu cách, phương thức. Sống là sinh hoạt, là quá trình hoạt động sinh vật và xã hội của mỗi con người và xã hội loài người (Bùi Thế Cường và cộng sự 2010). Theo nghĩa thông thường và được sử dụng phổ biến nhất thuật ngữ lối sống nói đến cách sống khác nhau, thường đập ngay và mắt người ta thông qua những giá trị và những phương thức tiêu dùng, là những cái đi kèm theo sự khác biệt hóa ngày càng tăng của các xã hội tư bản chủ nghĩa tiên tiến (Bùi Thế Cường và cộng sự 2010). Lối sống theo nghĩa này được biểu hiện cụ thể qua các hành vi tiêu dùng của các nhóm dân cư, đây là cái để người ta phân biệt giữa nhóm này với nhóm khác theo cơ cấu giai cấp hay phân theo thành thị nông thôn.
Huỳnh Khái Vinh lại cho rằng lối sống là một khái niệm đa tầng và đa nghĩa. “Trong một chừng mực nhất định, lối sống là cách ứng xử của những người cụ thể trước những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của môi trường sống. Môi trường là cái khách quan trực tiếp tác động và ảnh hưởng đến lối sống của con người của các nhóm xã hội và cộng đồng dân cư”. Do đó lối sống chịu sự quy định khách quan của môi trường sống nhưng văn hóa lối sống thì ngoài những cái khách quan của môi trường sống còn có thêm văn hóa để cải biến môi trường tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người (Huỳnh Khái Vinh, 2001). Tác giả cho rằng lối sống có bản chất văn hóa của nó cũng giống như sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung. Nếu quan niệm lối sống theo cách này thì lối sống là một biểu hiện, một khía cạnh của văn hóa theo cách định nghĩa như của Charles (1995).
Khi nhắc đến mối quan hệ giữa văn hóa và lối sống có nhiều ý kiến khác nhau. Huỳnh Khái Vinh cho rằng bản chất văn hóa của lối sống thường có sự thống nhất giữa các riêng và cái chung. Cho rằng lối sống bao gồm một số vấn đề: i, lối sống là tổng hòa những dạng hoạt động sống ổn định của con người và được vận hành theo một bảng giá trị xã hội; ii, lối sống chịu sự quy định của phương thức sản xuất và toàn bộ các điều kiện sống của con người; iii, lối sống có tính linh hoạt và có động cơ cao; iv, nghiên cứu nó cần coi trọng hình thức hoạt động lao động sản xuất, các giá trị vật chất và tinh thần; v, con đường để nắm bắt nội dung và phạm vi của khái niệm lối sống và tìm hiểu các hành động xã hội (hành vi ứng xử), cách thức hình thành và định hình các khuôn mẫu trong ứng xử; vi, lối sống xã hội nhìn chung mang tính chất văn hóa (Huỳnh Khái Vinh, 2001).
Huỳnh Khái Vinh phân tích và so sánh khác biệt giữa hai khái niệm lối sống , lối sống văn hóa và cho rằng “lối sống văn hóa là cách thức sinh tồn, tồn tại của con người trong những môi trường văn hóa nhất định”. Khái niệm lối sống văn hóa bao hàm sự kết hợp biện chứng giữa yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần, giữa sáng tạo giá trị vật chất và giá trị văn hóa, gắn liền với hình thái kinh tế - xã hội, phản ánh trình độ phát triển của xã hội, cộng đồng và con người”. Theo cách hiểu này, khái niệm lối sống là một khái niệm độc lập với khái niệm văn hóa, bản thân lối sống chưa có yếu tố văn hóa. Chỉ có lối sống đặt trong một môi trường văn hóa nhất định mới là lối sống văn hóa. Huỳnh Khái Vinh đề cao khái niệm về lối sống văn hóa tuy nhiên lại khuôn khái niệm lối sống hẹp hơn rất nhiều, là một khái niệm tách ra khỏi khái niệm văn hóa và môi trường văn hóa.
Trịnh Thị Kim Ngọc phân tích khía cạnh văn hóa truyền thống của ý thức sinh thái cộng đồng ở Việt Nam và cho rằng: Người Việt Nam có một lối sống văn hóa hòa đồng với thiên nhiên với một quan điểm “Biết được việc trời, mười đời chẳng khổ” dựa vào thiên nhiên để phục vụ cho cuộc sống của chính mình, cùng nhiều giá trị đạo đức và những tập tục truyền thống, thể hiện triết lý “thiên nhân hợp nhất, thiên nhân tương giao”(Trịnh Thị Kim Ngọc, 2009). Tác giả cũng phân tích sinh thái cộng đồng và lối sống truyền thống và hiện đại với việc bảo vệ môi trường và cho rằng “Lối sống của cộng đồng đóng vai trò quyết định trọng lượng của cán cân quan hệ con người với môi trường tự nhiên và môi trường tái tạo. Cộng đồng có lối sống tốt sẽ xây dựng được một môi trường lành mạnh, ngược lại, đối với cộng đồng không hợp lý sẽ tàn phá môi trường sống ngày càng dữ dội và xung đột môi trường cũng ngày càng tăng (Trịnh Thị Kim Ngọc, 2009).
Trong khi đó, Giang Thanh Huyền đồng nhất khái niệm văn hóa lối sống và lối sống có văn hóa. Tác giả này phân tích trên quan điểm maxit, tư tưởng Hồ Chí Minh và cho rằng văn hóa lối sống có 5 đặc trưng cơ bản: i, tôn trọng lao động, giá trị lao động và người lao động; ii, sinh hoạt lành mạnh; iii, tôn trọng giá trị gia đình; iv, quan tâm tới hoạt động chính trị - xã hội; v, hướng tới sự phát triển toàn diện của nhân cách. Giống với Nguyễn Hồng Hà, Giang Thanh Huyền cũng phân tích văn hóa lối sống truyền thống, những thay đổi trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam từ phân tích thực trạng đến những biến  tích cực và tiêu cực của văn hóa lối sống. Sau đó đưa ra 4 giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa lối sống trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa cho Việt Nam (Giang Thanh Huyền, 2011).
 Dưới góc nhìn của nhà tâm lý học, lối sống được cho rằng đó “là sự biểu hiện tập trung của ảnh hưởng môi trường xã hội, cách quan niệm và tư duy của con người được thể hiện trong lối sống, đến lượt mình, lối sống ảnh hưởng đến tư duy, đến các quan niệm tình cảm, tâm tư” (Nxb TTLL, Hà Nội, 1982). Theo đó lối sống được biểu hiện ra ngoài bởi hành vi, tập hợp hành vi tương đối giống nhau theo nhóm phản ánh lối sống của từng nhóm. Ngược lại lối sống này ảnh hưởng đến tư duy và các chuẩn mực về tình cảm.
Dưới góc độ xã hội học, khái niệm lối sống được hiểu như là những khuôn mẫu hành vi, ứng xử tương đối ổn định trong tổ chức đời sống xã hội của mỗi cá nhân, nhóm xã hội tương ứng với vị trí, vai trò trong mỗi cấu trúc xã hội nhất định (Mai Thị Kim Thanh, 2011). “Lối sống được coi là biểu tượng văn hóa mà con người và xã hội đặt ra trong thế giới vật chất, phi vật thể trong quá trình cải biến thế giới tự nhiên sao cho thích hợp được với hệ thống các nhu cầu của xã hội con người.” (Mai Thị Kim Thanh, 2011). Tác giả cho rằng nghiên cứu lối sống dưới góc độ xã hội học là nghiên cứu: thái độ đối với lao động và học tập cũng như thái độ ứng xử trong quá trình lao động học tập; thái độ của con người, nhóm xã hội trong ứng xử hàng ngày, trong sử dụng thời gian rảnh rỗi; thái độ trong việc tham gia và các hoạt động chính trị xã hội (Mai Thị Kim Thanh, 2011). Hiểu khái niệm lối sống theo nghĩa này là nhấn mạnh đến thái độ trong các vấn đề xã hội nhưng không đề cập tới hành vi trong quá trình sống. Cũng như không rõ ràng khi nhắc đến các hoạt động chính trị xã hội. Một số tác giả khác phân tích khái niệm lối sống nhưng đặt trong bối cảnh của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Việt Nam. Coi môi trường văn hóa là yếu tố đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng lối sống và con người Việt Nam ví dụ Nguyễn Hồng Hà (2005).
Chu Khắc Thuật tổng kết 3 quan niệm về lối sống: Quan niệm 1: Nhìn lối sống theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các biểu hiện xã hội. Khái niệm lối sống được coi đồng nhất với khái niệm xã hội, gồm phương thức sản suất, quan hệ, chế độ và các điều kiện xã hội. Ngược lại, quan niệm thứ 2 nhìn nhận lối sống một cách phiến diện: coi lối sống như cách suy nghĩ, hành vi, nếp sống nội tâm của con người. Để thay đổi lối sống chỉ cần giáo dục, biến đổi nếp tư duy cũng như nhu cầu của con người. Quan niệm này mắc sai lầm trong việc phân tích để thay đổi hành vi. Hành vi có thể phán ánh những nhận thức của con người nhưng không phải có nhận thức là có hành vi mà còn phụ thuộc rất nhiều vào môi trường xung quanh. Quan niệm thứ ba: Nêu rõ “đặc trưng của lối sống gồm, những hình thức của hoạt động sống điển hình của con người, những điều kiện lao động và sinh hoạt, các mối quan hệ qua lại giữa họ với nhau. Lối sống là tổng hòa của những dạng hoạt động sống điển hình trong một xã hội nào đó được xem xét thống nhất với các điều kiện kinh tế - xã hội”(Trịnh Thị Kim Ngọc, 2009).
Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm lối sống và sự phân biệt các khái niệm về văn hóa lối sống, lối sống văn hóa và lối sống có văn hóa. Phân nhiều các tác giả nghiên cứu lối sống văn hóa đặt trong bối cảnh chính trị của Việt Nam để phân tích. Trong nghiên cứu, tác giả lựa chọn khái niệm lối sống sau đây của Giang Thanh Huyền để tiến hành phân tích trong mối quan hệ với Văn hóa và vấn đề Biến đổi khí hậu.
“Lối sống là một phạm trù xã hội, khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế- xã hội nhất định, và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người; trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa” (Giang Thanh Huyền, 2011).
Biểu hiện của lối sống trên 3 khía cạnh: i, lối sống là một dạng hoạt động sống của con người; ii, hoạt động sống của con người phụ thuộc chặt chẽ và phương thức sản xuất và điều kiện sống của con người; iii, lối sống thể hiện đặc trưng riêng của từng cộng đồng người.
Với quan niệm lối sống như trên, đặt trong mối quan hệ với khái niệm văn hóa đã phân tích ở trên. Tác giả quan niệm lối sống gắn với hành vi cụ thể trong đời sống và trong hoạt động sản xuất bao gồm lối tiêu thụ và lối sản xuất kinh doanh, phân tích khái niệm văn hóa dưới góc độ nhận thức về giá trị của vấn đề biến đổi khí hậu trong các bậc thang giá trị.


Theo UNFCCC (Công ước khung liên hợp quốc về BĐKH) cho rằng: “BĐKH là một sự thay đổi của khí hậu do hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp của con người tác động làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu, loại trừ việc thay đổi khí hậu do tự nhiên được quan sát trong khoảng thời gian tương đương”. Theo quan niệm về BĐKH này của UNFPCCC đã loại bỏ toàn bộ ảnh hưởng của quy luật tự nhiên của lớp vỏ địa lý đặc biệt là quy luật nhịp điệu để giải nghĩa hiện tượng BĐKH.
Ngược lại với định nghĩa của UNFPCCC ở trên, IPCC (Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu) đưa ra khái niệm về BĐKH trong đó có tính đến cả hoạt động của quá trình tự nhiên. IPCC coi “BĐKH là một sự thay đổi trong trạng thái của khí hậu có thể được xác định bởi những thay đổi trong giá trị trung bình hoặc sự thay đổi về thuộc tính của nó trong thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc lâu hơn. Khí hậu thay đổi có thể là do quy trình nội bộ tự nhiên hoặc do quá trình bên ngoài, hoặc do con người thay đổi các thành phần trong khí quyển và trong sử dụng đất” [1].
Như vậy, nguyên nhân của quá trình tự nhiên của hiện tượng BĐKH là sự khác nhau cơ bản trong 2 định nghĩa trên và đây cũng là 2 trường phái chính về quan điểm về biến đổi khí hậu. Trong những thập kỷ trước từ các nhà khoa học trên thế giới còn bàn cãi về việc BĐKH có phải là do con người hay không và con người đóng góp như thế nào vào hiện tượng này. Tuy nhiên, từ năm 2008 thông qua báo cáo của IPCC đã thể hiện sự đồng thuận trong giới khoa học rằng biến đổi khí hậu là có thật và con người là tác nhân của hiện tượng này.
Trong hai khái niệm trên, khái niệm của IPCC nói rõ hơn về biểu hiện của BĐKH, đó chính là việc thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu. Chủ yếu do sự gia tăng các khí thải gây hiệu ứng nhà kính được quy đổi về hàm lượng CO2 trong không khí. Theo quy luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ địa lý, sự thay đổi của khí quyển sẽ dẫn đến việc thay đổi 2 vòng tuần hoàn cơ bản của trái đất là vòng tuần hoàn nhiệt và vòng tuần hoàn ẩm. Sự thay đổi các vòng tuần hoàn này dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ khí quyển trung bình và thay đổi lượng mưa theo không gian và thời gian. Đây chính là 2 biểu hiện cụ thể nhất của biến đổi khí hậu. Đi kèm với hiện tượng của biến đổi khí hậu là việc gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan và tăng mực nước biển.

Lối sống và BĐKH có mối liên hệ với nhau nhưng đó không phải là mối liên hệ trực tiếp mà là một liên hệ gián tiếp khá phức tạp, mất nhiều thời gian để giới khoa học xác nhận mối liên hệ giữa 2 vấn đề này.
Trước hết, lối sống thể hiện rõ nhất trong lối sản xuất, lối kinh doanh, lối tiêu dùng với các hành vi cụ thể trong đời sống hàng ngày và trong sản xuất đó chính là hành vi khai thác tài nguyên (khai tác khoáng sản, khai thác tài nguyên động thực vật, khai thác thủy năng …), sử dụng tài nguyên (sử dụng nước, sử dụng khoáng sản trong ngày công nghiệp…) và phát thải rác thải ra môi trường. Tất cả các hành vi khai thác thác tài nguyên và phát thải rác thải này có ảnh hưởng môi trường địa lí xung quanh và vượt quá khả năng chịu tải của môi trường tự nhiên. Theo các nghiên cứu thì để môi trường tiêu thụ hết rác thải mà con người xả ra trong 1 năm (tính toàn cho năm 2002) cần phải mất 1 năm 2 tháng (Boersema Jan. J., và Reijnders Lucas, 2008). Như vậy, hoạt động sống của con người trên trái đất đang vượt quá xa khả năng chịu tải của môi trường tự nhiên, trong khi khả năng chịu tải của môi trường có hạn, lượng phát thải ngày một tăng dẫn đến gia tăng một cách đột ngột lượng khí trơ như CO2 và một số khí oxit ni tơ khác dẫn đến hiện tượng hiệu ứng nhà kính, tăng quá trình giữ nhiệt trong khí quyển trái đất, đây là nguyên nhân chính của hiện tượng nóng lên toàn cầu. Mặt khác việc thay đổi cấu trúc thành phần khí quyển dẫn đến thay đổi vòng tuần hoàn nhiệt và vòng tuần hoàn ẩm là 2 vòng tuần hoàn cơ bản và quan trọng trên trái đất dẫn đến các hiện tượng của BĐKH.
Như vậy, việc gia tăng thành phần các khí trơ mà chủ yếu là CO2 được coi là nguyên nhân dẫn đến BĐKH trên toàn cầu. Mối quan hệ giữa lối sống và BĐKH được thể hiện thông qua việc tăng phát thải CO2 nói chung[2] trong khí quyển. Lối sống có mối quan hệ tác động gián tiếp đến BĐKH hai chiều thông qua hành vi phát thải rác thải. Trước hết là các hành vi gia tăng phát thải và khai thác tài nguyên quá mức dẫn đến sự gia tăng nhanh thành phần các khí gây hiệu ứng nhà kính. Tiếp theo là nhóm hành vi tích cực giúp giảm phát thải, giảm lượng khí CO2 trong khí quyển.
Ngược lại BĐKH cũng có tác dụng lại đối với lối sống tiêu dùng, sản suất và kinh doanh thông qua ảnh hưởng lây truyền trong toàn bộ môi trường địa lý bao xung quanh con người, tác động đến các quá trình tự nhiên trên trái đất. Những biểu hiện cụ thể của biến đổi khí hậu đó là sự gia tăng nhiệt độ, mực nước biển và thay đổi về tần suất cũng như cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan như: Bão, lũ lụt, sương muối, mưa đá …
Báo cáo hàng năm của IPCC về BĐKH đã tóm gọn những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động của con người. Các phương án mực nước biển tăng và các giả định khác về sự thay đổi nhiệt độ đưa ra những dự báo về ảnh hưởng của BĐKH trên phạm vi toàn cầu. Mặc dù không đưa ra được ngưỡng rõ ràng để xác định đâu là mức “nguy hiểm” hay “an toàn” nhưng BĐKH và những ảnh hưởng của nó là vô cùng to lớn. Trước hết sẽ ảnh hưởng đến một loạt các quá trình nối tiếp nhau bao gồm các vấn đề trọng yếu là: sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực; khủng hoảng nước và tình trạng bất an ninh về nước; nước biển dâng và nguy cơ thiên tai; Các hệ sinh thái và đa dạng sinh học; Sức khỏe con người. Thông qua 5 cơ chế này mà BĐKH có thể đẩy lùi cả quá trình phát triển của con người nếu nhiệt độ độ dự báo tăng 20C (UNDP, 2008). Các kịch bản BĐKH nếu nhiệt độ tăng lên 3 đến 4 độ C thì 330 triệu người phải di dời tạm thời hay vĩnh viễn do lũ lụt. Hơn 70 triệu người Băng-la-đét, 6 triệu người ở vùng đồng bằng thấp của Ai-cập và 22 triệu người ở Việt Nam có thể bị ảnh hưởng (UNDP, 2008, 10). Rõ ràng BĐKH “là thách thức lâu dài lớn nhất mà con người phải đối mặt” (Tony Blair, 2006) bởi khẳ năng gây thiệt hại: đến con người, đến tự nhiên, vật chất, tài chính và xã hội của con người.
Dưới những tác động trực tiếp từ các hiện tượng của BĐKH con người buộc phải thay đổi lối sống cho phù hợp với hoàn cảnh khác. Mặc khác, khi con người nhận thức được vấn đề của BĐKH và nguyên nhân của nó, con người xây dựng các trường trình hành động nhằm ứng phó với BĐKH về thực chất là các hoạt động nhằm thích ứng với điều kiện của BĐKH và các hoạt động giảm thiểu phát thải. Các hoạt động thích ứng hay giảm thiểu thể hiện rõ sự thay đổi của lối sống do BĐKH đặc biệt là trong lối tiêu dùng của cá nhân và cộng đồng.




[2] Bao gồm là lượng khí nhà kính khác quy đổi sang CO2