14 thg 6, 2024

Văn hóa, lối sống và Biến đổi khí hậu P5.6. Nguyên nhân của lối sống không có lợi cho môi trường

Tồn tại mâu thuẫn rất rõ giữa nhận thức và hành vi ủng hộ biến đổi khí hậu. Mặc dù nhiều người được hỏi đồng ý với quan điểm có mối liên hệ giữa hành động cá nhân và BĐKH nhưng không phải tất cả đều cảm giác có lỗi với hành vi của bản thân và sẵn sàng thay đổi. Trên thực tế, người tiêu dùng ở những nước có dấu chân sinh thái lớn ít có có cảm giác có lỗi với hành vi của họ hơn (Echegaray và cộng sự, 2008). Nói cách khác, cảm thấy có lỗi là đặc tính của các nước đang phát triển hơn là ở các nước phát triển. Trong khi đáng nhẽ người tiêu dùng ở các quốc gia phát triển và cũng là quốc gia có dấu chân sinh thái lớn phải có cảm giác có lỗi (guilt) nhiều hơn đối với môi trường do những hoạt động của họ gây ra đổi với môi trường và vấn đề biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, khái niệm cảm thấy có lỗi và trách nhiệm của Echegaeray đưa ra mang tính rất tương đối. Bởi trách nhiệm và cảm giác có lỗi của cá nhân còn phụ thuộc vào so sánh tương quan giữa các nhóm với nhau. Ví dụ, người Mỹ có dấu chân sinh thái đứng thứ 2 trên thế giới[1] cao hơn nhiều so với dấu chân sinh thái của người Trung Quốc nhưng người Mỹ ít có cảm giác có lỗi hơn so với người Trung Quốc. Điều tra của nhóm Echegaray cho thấy số người được hỏi cảm thấy có lỗi ở Trung Quốc là 60% trong khi con số này ở Mỹ là 42%. Bởi vì người Mỹ có trách nhiệm về hành vi cá nhân đối với các vấn đề về môi trường hơn so với người Trung Quốc vì họ biết rằng người Trung Quốc không bảo tồn và tái chế nhiều như họ. Cụ thể, tỷ lệ số người không có hành động gì cho vấn đề môi trường ở Trung Quốc là 42% trong khi tỷ lệ này ở Mỹ là 20%. (Echegaray và cộng sự, 2008). Theo lý thuyết về hành vi, nhận thức  là yếu tố đầu tiên cần thiết để thay đổi hành vi. Lý thuyết về sự bất hòa nhận thức (Festinger, 1975) cá nhân có xu hướng tìm kiếm sự thống nhất giữa niềm tin, hành vi và và thái độ có nhiều khả năng thay đổi hành vi để thích ứng với môi trường. Việc người tiêu dùng đồng ý với quan điểm cho rằng hành vi của lối sống cá nhân có ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu, có cảm giác có lỗi và cảm giác cần phải có trách nhiệm đối với hành vi cá nhân là tiền để thay đổi hành vi. Nhưng khi nào khi cảm giác có lỗi của cá nhân có thể chuyển thành sự thay đổi trong hành vi của bản thân họ.
Trên thực tế hành động không phải lúc nào cũng nhất quan với nhận thức của họ mà luôn tồn tại khoảng cách nhất định. Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đều cho thấy phần lớn người dân cho rằng lối sống cá nhân có mối liên hệ với BĐKH và sự thay đổi của lối sống cá nhân là cần thiết cho vấn đề môi trường và BĐKH. Trong nghiên cứu Ipsos Mori[2]- trình bày với RSA, 74%  người cảm thấy rằng “chúng ta đang đi hướng về thảm họa môi trường nếu chúng ta không nhanh chóng thay đổi thói quen của chúng ta” , nhưng chỉ có 59% nói rằng họ đang có hành động về điều đó (Prescott, 2008). Đây chỉ là một nghiên cứu thực nghiệm trong nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy người tiêu dùng có nhận thức nhưng không sẵn sàng thay đổi và không có hành động thiết thực để thay đổi lối sống cá nhân. Điều này phụ thuộc vào sự thỏa mãn nhu cầu cá nhân và những tiện ích trong lối tiêu dùng. Để thay đổi lối tiêu dùng theo hướng có lợi cho môi trường và vấn đề BĐKH thì nhận thức của cá nhân và mối quan tâm của họ đến BĐKH là điều kiện tiên quyết cho lối sống bền vững, ít có hại cho  môi trường nhưng không đồng nghĩa với việc dẫn đến sự thay đổi lối sống (Manfred Lenzen, 2001). Nhận thức và tầm quan trọng của nhận thức về vấn đề môi trường không phải lúc nào chuyển thành hành động để thay đổi hành vi (Lorenzon and Langford, 2001). Luôn tồn tại một cái gọi là khoảng cách của hành động mà theo Blake “khoảng cách hành động đề cập đến những vấn đề mà những người theo giá trị môi trường không phải lúc nào cũng hành động phù hợp” (Blake, 1999) còn theo Defra đó là có nhận thức nhưng không có hành động còn gọi là khoảng giá trị của hành động (Defra, 2013). Ở cấp độ vĩ mô đó là khảng cách giữa các bằng chứng về mặt khoa học và các biện pháp ứng phó về mặt chính trị của chính phủ (UNDP, 2008). Nhiều quốc gia bất chấp bằng chứng khoa học vẫn không thực hiện các cam kết về cắt giảm nhu cầu năng lượng và giảm phát thải. Về cấp độ cá nhân đó là khoảng cách giữa nhận thức vấn đề của cá nhân và thay đổi lối sống cho dù một nghiên cứu cho thấy 80% số người được hỏi cho rằng “giải pháp cuối cùng cho mỗi vấn đề phụ thuộc vào những thay đổi mạnh mẽ trong phong cách sống của chúng ta” (Worsley và Skrzypiec, 1998).
Tại sao sự nhận thức của cá nhân không trở thành hành vi cụ thể. Theo Guilmoto (2007), việc thực hiện một hành vi nào đó phải đảm bảo các yếu tố. Trước hết hành vi đó có ý thức; thứ 2 hành vi đó có tính khả thi tức có thể thực hiện được, có phương pháp và có khả năng; thứ 3 hành vi đó đem lại lợi ích cho cá nhân. Rõ rằng việc thay đổi lối sống cá nhân được nhận thức là cần thiết, bản thân họ có ý thức cho hành vi, hành vi này được xã hội ủng hộ, tuy nhiên hành vi này mang lại lợi ích lâu dài chứ không phải là lợi ích trước mắt. Cái trước mắt đó là sự tiện lợi cá nhân và thỏa mãn nhu cầu cá nhân của thời điểm hiện tại. Rất khó để có thể xác định được ranh giới giữa một cái là nhu cầu cá nhân và tiết kiệm cho tương lai. Cũng như việc khó để xác định điểm dừng của lối sống bền vững. Cái gọi là tiêu dùng bền vững cũng chỉ là một khoảng định tính không có thang đo định lượng rõ ràng.  Trong khi đó những hành vi được coi là không phù hợp với lối sống bền vững, lối sống tiết kiệm tài nguyên và năng lượng vẫn được xã hội chấp nhận, hay nói cách khác chuẩn mực xã hội và cảm giác tội lỗi của cá nhân về về lối sống tiết kiệm vẫn chưa đủ mạnh để họ thay đổi hành vi.
Cuối cùng đâu là những nguyên nhân của lối sống không phù hợp, không tiết kiệm và có hại với môi trường. Theo quan điểm nghiên cứu của xã hội học văn hóa, mỗi cá nhân hay nhóm cộng đồng có những hệ giá trị riêng chi phối hành vi của mỗi cá nhân, mỗi nhóm. Giá trị này nằm trong nhận thức của cá nhân hay của nhóm, tác động đến hành vi giúp cho cá nhân này hòa hợp với cộng đồng (Mai Văn Hai, 2005). Mỗi cá nhân hay mỗi nhóm lại có những hệ giá trị riêng trong đó có thứ tự ưu tiên khác nhau cho mỗi đối tượng. Trong nhóm giá trị  này, môi trường có thể được đặt lên hàng đầu nhưng trong nhóm khác các giá trị về kinh tế lại được ưu tiên cao nhất. Thứ tự ưu tiên trong bậc thang giá trị thường gắn liền với lợi ích gần của cá nhân hay nhóm, những lợi ích xa hơn sẽ được tính toán đến sau đó. Nghiên cứu thực nghiệm của Defra cho thấy có đến 25% số người được hỏi không đồng ý rằng lối sống của họ góp phần làm biến đổi khí hậu; họ cho rằng biến đổi khí hậu chỉ là sự lo xa và ưu tiên về môi trường thấp hơn so với các ưu tiên khác trong cuộc sống của họ (Defra, 2013). Lối sống lành mạch có ích trực tiếp và thường xuyên đến cá nhân hơn là các hành vi ủng hộ môi trường thường không có bất kì lợi thế ngay lập tức nào. Một số hành vi ủng hộ môi trường có thể tiết kiệm tiền (tiết kiệm năng lượng), hoặc tăng địa vị xã hội của họ (sử dụng pin mặt trời trên mái nhà) nhưng một số hành vi khác lại giảm sự thoải mái và tiện lợi (sự ấm áp, tiện lợi của xe) hay gia tăng chi phí (sử dụng thực phẩm hữu cơ, giá điện tái tạo như phong năng, nhiệt năng …) trong khi đó những lợi ích môi trường không nhìn thấy được và tác động đến họ ở một tương lai xa, điều này không khiến cho cá nhân tham gia vào các hành vi ủng hộ môi trường ngay lập tức (Milena Buchs và cộng sự, 2009).
Như vậy, xem nhẹ  giá trị về môi trường là nguyên nhân khiến cho cá nhân và nhóm không hoặc ít thay đổi lối sống theo hướng có lợi cho môi trường do những lợi ích về mặt kinh tế và tiện ích cá nhân ngay trước mặt. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để thay đổi hành vi cá nhân, nâng giá trị về môi trường cao hơn trong bậc thang giá trị để đạt được lối sống tiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bền vững.
Ngoài ra, còn tồn tại tâm ý ỷ lại, đổ lỗi trách nhiệm sang người khác, coi hành động của bản thân họ chỉ là thứ yếu, hành động của người khác là chủ yếu. Sự đổ lỗi trách nhiệm lên người khác bao gồm các doanh nghiệp và chính phủ (Defra, 2013) hay  người tiêu dùng khác. Để giải quyết vấn đề BĐKH, nhiều ý kiến cho rằng: ngoài việc thay đổi công nghệ, “thay đổi lối sống và cách thức tiêu dùng” có tầm quan trọng rất quan trọng (Duchin 1998; OECD, 1998; Lundgren, 1999; IPCC, 2007a, and Spratt D, Sutton P, 2008). Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm của Echegaray, Defra … đều cho thấy rằng cá nhân mặc dù nhận thức được ảnh hưởng của hành vi cá nhân nhưng không phải lúc nào cũng chuyển nó thành hành động cụ thể. Một mặt do khoảng cách giữa nhận thức và hành động cá nhân, mặt khác do phần lớn họ - những người tiêu dùng sẽ tìm cách đổ lỗi trách nhiệm cho bên khác và yêu cầu sự thay đổi từ bên ngoài chứ không phải từ chính họ.
Người tiêu dùng sẽ cố gắng vượt qua trách nhiệm cá nhân đối với BĐKH, đổ lỗi cho doanh nghiệp, chính phủ và hi vọng nhiều hơn vào sự thay đổi của các doanh nghiệp cũng như những thay đổi trong công nghệ hơn là thay đổi lối sống của họ (Echegaray và cộn sự, 2008). Trong nghiên cứu thực nghiệm, có 58% đồng ý với ý kiến biến đổi khí hậu có thể được giải quyết bởi công nghệ và một chút thay đổi từ lối sống cá nhân, tỷ lệ này cao hơn ở các quốc gia đang phát triển (Echegaray và cộng sự, 2008). Ở một nghiên cứu khác của Leiserowitz, có 31% số người[3] được hỏi cho rằng “Các công nghệ mới có thể giải quyết nóng lên toàn cầu mà không có cá nhân phải thực hiện lớn thay đổi cuộc sống của họ” (Leiserowitz, 2008). Bên cạnh đó người tiêu dùng mong đợi vào những hành động của chính phủ về việc tạo ra một cơ chế cho việc thực hiện hoặc việc thực thi những cam kết của chính phủ về biến đổi khí hậu. Như vậy, để thay đổi lối sống đòi hỏi sự nỗ lực và ủng hộ ở các cấp khác nhau bao gồm chính phủ, doanh nghiệp và người dân.
Trong khi đó các doanh nghiệp cũng trông đợi nhiều vào người tiêu dùng trong việc giảm phát thải (ADBI, 2012). Yêu cầu từ việc thực hành lối sống tiết kiệm năng lượng, tăng cường tái chế, giảm rác thải. Thực hành lối sống này ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp do có thể giảm lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Về mặt chính phủ việc thực hiện các cam kết liên quan đến vấn đề môi trường , giảm phát thải ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của nền kinh tế. Các ưu tiên về kinh tế vẫn được ưu tiên hơn trong bậc thang giá trị. Thay bằng việc thực hiện các cam kết giảm phát thải CO2 nhiều quốc gia phát triển và cũng là các quốc gia có dấu chân sinh thái lớn lựa chọn thuế môi trường với hình thức mua CO2, đầu tư vào ngành trồng rừng và thực hiện chiến dịch này ở các nước đang phát triển. Thực chất là kiểu đẩy trách nhiệm giảm phát thải sang các quốc gia khác. UNDP cũng đặt ra vấn đề cần phải xem xét lại mối quan hệ trong trách nhiệm về mặt đạo đức, trách nhiệm cần phải suy ngẫm và thay đổi các chính sách năng lượng để không làm ảnh hưởng tới các thế hệ mai sau nhất là đối với chính phủ của các quốc gia, mặt dù đặt mục tiêu cho chính sách năng lượng nhưng lại không có hành động cụ thể (UNDP, 2008)
Rõ ràng BĐKH không loại trừ một đối tượng nào trong môi trường toàn cầu, vì thế giải quyết vấn đề này cần có sự phối hợp và phân công trách nhiệm giữa các bên trong một quốc gia hay giữa các quốc gia. Đó cũng là trách nhiệm chung cho các bên bao gồm: Chính phủ, doanh nghiệp và người dân. Trên thực tế, gia tăng phát thải dẫn đến BĐKH liên quan liên quan tới một hệ thống vì thế nó cần được giải quyết bằng cả hệ thống (SNicolas Stern).  Yêu cầu phối hợp hành động và mệnh lệch bắt buộc chứ không còn là một phương án (UNDP, 2008). Vấn đề nảy sinh đó là nghĩa vụ của các bên như thế nào trong việc giải quyết vấn đề (Echegaray và cộng sự, 2008; Lorenzon and Langford, 2001).
Biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu do sự thống nhất của lớp vỏ địa lý. Trách nhiệm trong việc làm gia tăng của BĐKH là khác nhau nhưng các hoạt động ứng phó cần sự tham gia của tất cả các khu vực trên thế giới. Thực tế không có giải pháp duy nhất mà cần có sự phối hợp hoạt động giữa chính phủ, doanh nghiệp và người dân trong việc thực hành lối sống bền vững (Defra, 2013). Mỗi bên vừa thực hiện trách nhiệm hành động của mình, vừa thực hiện trách nhiệm giám sát, hoạt động của các bên khác tạo ra thống nhất hành động chung giảm BĐKH.
Chính phủ có trách nhiệm tạo ra một cơ chế chính sách (ADBI, 2012), tạo ra môi trường thay đổi lối sống một cách  mạnh mẽ, khuyến khích thực thi sử dụng các công cụ pháp luật thích hợp. Doanh nghiệp sử dụng các chiến lược và thay đổi mô hình kinh doanh, sử dụng công nghệ và sản phẩm tạo thuận lợi cho hành vi tiêu dùng bền vững (ADBI, 2012). Trước hết cần khuyến khích người dân thực hành lối sống bền vững, tạo sự liên kết giữa các nhóm và xa hơn đó là mối quan tâm giữa môi trường và lối sống (Defra, 2013) mỗi cá nhân sẽ phải xem xét lại lối sống riêng của mình về mô hình tiêu thụ  sử dụng (ADBI, 2012).


Trong mối quan hệ này, trước hết chính phủ cần tạo ra một cơ chế chính sách thực hiện việc giám sát hoạt động của doanh nghiệp cũng như người dân theo các cam kết giải quyết vấn đề về môi trường. Cơ chế này giúp giám sát ở hai vấn đề giảm phát thải khí nhà kính thông qua lối sản xuất kinh doanh và lối tiêu dùng tiết kiệm năng lượng, tăng cường tái chế trong quá trình sản xuất và đời sống. Việc giám sát có thể được thực hiện thông qua các chế tài kiểm soát xã hội. Chế tài này là công cụ để điều chỉnh hành vi của người dân và doanh nghiệp theo những chuẩn mực của xã hội các bon thấp. Như vậy, cả người dân và doanh nghiệp đều chịu cơ chế giám sát từ chính phủ, mặt khác 2 bên này còn thực hiện cơ chế giám sát lẫn nhau thông qua chiến lược sản phẩm và lựa chọn sản phẩm tiêu dùng. Người dân giám sát hoạt động của doanh nghiệp thông qua việc lựa chọn sản phẩm hàng hóa tiêu dùng theo các tiêu chí về sản phẩm xanh (tức sản phẩm ít có hại cho môi trường, có khả năng tái chế cao, công ty sản xuất ra sản phẩm đó thực hiện các quy trình xử lý rác thải chất thải, có những cam kết về việc giảm phát thải và mua CO2, …). Về phía doanh nghiệp, mọi chiến lược sản phẩm cuối cùng cũng để đáp ứng lại nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng. Thông qua khảo sát thị hiếu người tiêu dùng, doanh nghiệp thực hiện chiến lược sảm phẩm xanh, sử dụng công nghệ cao tạo điều kiện cho lối sống bền vững. Mục tiêu cuối cùng trong trách nhiệm của 3 bên đó là giảm phát thải, tăng tái chế giúp giảm những tác nhân gây nên BĐKH.

 Thực hiện một nghiên cứu trên 100 thẻ mua sắm tại BP để ghi lại mức độ nhiên liệu mà mỗi người đã mua lại. Thông qua đó, xác định mức độ CO2  bị thải ra môi trường. Sau đó các TS Bristow sử dụng máy tính để hỗ trợ kiểm tra hành vi để phát hiện ra những giá trị tương đối của thuế CO2, như một hình thức giao dịch bắt buộc cho mọi cá nhân, từ đó gây áp lực đến sự lựa chọn của họ. Vấn đề đặt ra đó là việc áp dụng mức giá phù hợp để tìm các biện pháp hiệu quả mang lại lợi ích về kinh tế, thay  đổi hành vi cá nhân mà không gây ra tác động kinh tế thụt lùi trong tương lai (Matt Prescott,2008)

 









Nhận thức là yếu tố quan trọng đầu tiên để hình thành hành vi thay đổi lối sống của cá nhân, nhưng điều này không phải là điều kiện duy nhất. Nhận thức đầy đủ về mối liên hệ giữa lối sống cá nhân và biến đổi khí hậu khiến cho con người thay đổi phần nào lối sống của họ như một việc làm ủng hộ môi trường. Cũng có thể đưa ra giả thuyết về sự nhận thức không đầy đủ về ảnh hưởng của lối sống đến biến đổi khí hậu. Tuy nhiên,  vấn đề ở đây là tâm lý ỷ lại và đổ lỗi trách nhiệm của người dân. Đạo đức môi trường vẫn là một cái gì đó xa trong tâm trí mọi người. Cần thiết nhấn mạnh giải pháp về tuyên truyền nâng cao nhận thức vì đây là cơ sở đầu tiên của việc hình thành hành vi. Quan trọng là việc nâng cao nhận thức sẽ đạt đến một mức độ nhất định, qua điểm tới hạn này, việc nâng cao nhận thức sẽ không đạt được thay đổi nào đáng kể trong hànhvi. Ngoài ra, để đạt được sự thay đổi lối sống cần thiết phải sử dụng chế tài kiểm soát xã hội đủ mạnh kết hợp với những thay đổi công nghệ từ phía doanh nghiệp và sự hợp tác chủ động của người dân.Về đối tượng, nên tập trung vào thanh niên, những người làm chủ thực sự trong tương lai và cũng là những người sẽ phải nhận những ảnh hưởng của các hiện tượng biến đổi khí hậu. Việc nhấn mạnh vai trò của thanh niên trong thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ là rất hữu ích, chính họ là người sẽ tạo ra sự thay đổi cho tương lai bằng việc có trách nhiệm trong lối sống, trong việc nghiên cứu nguồn năng lượng sạch, sử dụng công nghệ cao trong sản xuất và đưa ra thị trường sản phẩm sạch thân thiện với môi trường. 




[1] Xem thêm ở http://www.go-green.ae/footprint/countries.php
[3] Cỡ mẫu của nghiên cứu là 2164.

 TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT GIỮA CÁC BÊN NHẰM KHUYẾN KHÍCH HỘ GIA ĐÌNH LẮP ĐẶT PIN NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI TẠI NINH THUẬN

TTTDung


Tóm tắt

Phát triển điện mặt trời áp mái là xu thế và chiến lược trong phát triển điện năng quốc gia trong tương lai. Để có thể phát triển nhanh chóng điện mặt trời cấp hộ và tăng tỷ trọng điện năng lượng mặt trời (NLMT) áp mái, nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích và làm rõ vai trò, mối tương quan của các bên liên quan trong khuyến khích hộ gia đình lắp đặt pin NLMT để khai thác hiệu quả tiềm năng năng lượng trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Kết quả nghiên cứu cho thấy chính quyền địa phương có nhiều chủ trương tập trung vào phát triển điện NLMT mái nhà; công ty điện lực có vai trò quan trọng trong khuyến khích hộ gia đình lắp pin NLMT; Ngân hàng đã triển khai gói tín dụng dành cho cá nhân nhưng chưa đủ hấp dẫn; Mối quan hệ chặt giữa công ty lắp đặt pin năng lượng mặt trời và công ty điện tạo điều kiện cho việc khuyến khích hộ gia đình lắp đặt điện mặt trời hộ gia đình. Tuy nhiên, để đảm bảo việc phát triển không chỉ xanh mà còn công bằng cần có thêm cơ chế chính sách hỗ trợ, sự liên kết chặt hơn giữa các bên liên quan khai thác tốt lợi thế so sánh của Ninh Thuận trong lĩnh vực này.

Từ khóa: năng lượng tái tạo, điện mặt trời, pin năng lượng mặt trời áp mái

1.    Đặt vấn đề

Ninh thuận nằm trong vùng Nam Trung Bộ có khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với đặc trưng nắng nóng, lượng bốc hơi lớn và lượng mưa nhỏ có 2 mùa mưa và mùa khô. Địa bàn tỉnh nằm trong vùng có số giờ nắng và tổng bức xạ lớn, giờ nắng trung bình là 2.843 giờ/năm, cao nhất cả nước[1]. Một năm trung bình có 9 tháng nắng với số ngày nắng tương đương là 200 ngày/năm. Không chỉ thế, tổng bức xạ cũng vào hàng cao so với trung bình của cả nước. Con số này là 230kcl/cm2, ngay cả vào tháng thấp điểm chỉ số này cũng đạt 14 kcl/cm2. Với những đặc điểm này về khí hậu, Ninh Thuận trở thành địa bàn có tiềm năng to lớn để phát triển năng lượng mặt trời. Theo bản đồ bức xạ mới nhất ở Việt Nam, lượng bức xạ ở Ninh thuận ở nhóm cao nhất là nước. Con số trung bình là trong khoảng 5,4 đến 5,6 kwh/m2.

Chính sách vĩ mô ở Việt Nam có vai trò hết sức quan trọng đối với việc khuyến khích hộ gia đình lắp đặt pin NLMT bao gồm chính sách về: giá bán điện, thị trường điện cạnh tranh. Chính sách về giá ổn định, và lâu dài giúp cho nhà đầu tư (là doanh nghiệp và người dân) yên tâm đầu tư trước biến động của thị trường. Đặc biệt là trong bối cảnh suy thoái kinh tế và áp lực lên ngành công nghiệp năng lượng ngày một lớn. Chính sách vĩ mô về thị trường điện cạnh tranh và điện mặt trời áp mái tạo điều kiện quan trọng để hình thức này phát triển rộng khắp. Năm 2017, Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/04/2017 về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam. Theo đó, các công trình điện mặt trời mái nhà được kết nối với lưới điện quốc gia và thực hiện ghi nhận số điện qua công tơ điện 2 chiều, và thực hiện mua bán điện với công ty điện lực theo giá quy định. Đây là mốc quan trọng cho phát triển điện mặt trời áp mái ở Việt Nam. Tiếp sau đó, để cụ thể hóa, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 16/2017/TT-BCT ngày 12/09/2017, hướng dẫn chi tiết các quy định về phát triển dự án và Hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các dự án điện mặt trời nối lưới, hoặc điện NLMT hòa lưới. Ngoài ra, Bộ Công thương có Chương trình thúc đẩy phát triển điện mặt trời áp mái tại Việt Nam giai đoạn 2019-2025 theo Quyết định số 2023/QĐ-BCT ngày 5/7/2019 với mức hỗ trợ 3 – 10 triệu cho 1 triệu mái nhà xanh.

Cho đến năm 2020, Thủ tướng chính phủ cho phép bên mua điện là chủ thể khác ngoài EVN có thể là cá nhân hay doanh nghiệp có nhu cầu theo Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam. Ngay sau đó, Bộ Công thương đã có hướng dẫn chi tiết theo Thông tư số 18/2020/TT-BCT quy định về phát triển dự án và hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho dự án điện mặt trời do Bộ Công thương ban hành. Theo đó hướng dẫn chi tiết cả trường hợp người mua điện không phải là chủ sở hữu của công trình điện áp mái (trường hợp cho thuê mái nhà cho bên thứ ba lắp đặt điện mặt trời áp mái). Bên cạnh đó, biểu giá bán điện cho các giai đoạn sau mốc 30/06/2019 (Công văn số 3725/EVN-KD) đến 20/12/2020 được quy định rõ tạo thêm thuận lợi cho lắp đặt điện mặt trời mái nhà. Các chính sách này đã từng bước tạo ra những điều kiện rất thuận lợi cho việc cá nhân, doanh nghiệp tiến hành lắp đặt điện mặt trời áp mái và coi mái nhà là một đối tượng mới có thể khai thác trong sản xuất điện. Tuy nhiên, để đảm bảo việc phát triển không chỉ xanh mà còn công bằng cần có thêm cơ chế chính sách hỗ trợ cũng như cần có sự liên kết chặt hơn giữa các bên để số lượng hộ gia đình lắp đặt pin NLMT mái nhà ngày càng tăng, khai thác tốt lợi thế so sánh của Ninh Thuận trong lĩnh vực này.

2.    Cơ sở lý luận

2.1. Các bên liên quan và vai trò của các bên liên quan

Lý thuyết về các bên liên quan được tiếp cận khá muộn, mãi đến những năm 1980s mới có những định nghĩa đầu tiên. Ở các khái niệm ban đầu, các bên liên quan được coi như là các tổ chức (Freeman, 1984; Evan và Freeman, 1988; Freeman, 2004; Donaldson và Preston, 1995; Greenley và Foxall, 1997). Theo đó, các bên liên quan gồm bất kỳ một cá nhân hay nhóm có thể có ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của một tổ chức, tập đoàn kinh tế. Cho đến đầu năm 2000, có nhiều bên khác cũng tiếp cận khái niệm các bên liên quan, các nhóm của bên liên quan được liệt kê đầy đủ, cụ thể hơn ví dụ Fontaine và nnk (2006) đã liệt kê 12 nhóm các bên liên quan khác nhau trong kinh doanh.

Đối với vấn đề quản lý năng lượng mặt trời, nhóm tác giả xác định các bên liên quan là những người quan tâm đến, và những người bị ảnh hưởng bởi các hoạt động quản lý năng lượng (Li và nnk, 2019). Theo cách nhìn từ mức độ có liên quan của các chủ thể đến sự việc phân tích, và được chia làm: i) các bên liên quan chính: bao gồm người hưởng lợi và nhóm bị ảnh hưởng trực tiếp của dự án, chính sách; các bên liên quan thứ cấp bao gồm các cá nhân có khả năng có lợi ích để ảnh hưởng đến kết quả của dự án; nhóm gồm những người/quan chức không trực tiếp tham gia vào dự án/chính sách nhưng có thể cung cấp và đóng góp quan điểm có lợi hoặc đóng góp vào ít nhất một thuộc tính nào đó (kỹ thuật viên, xã hội dân sự).

Như vậy, về cơ bản các bên liên quan được tính là tất cả nhóm có thể có liên quan, chịu tác động tích cực hoặc tiêu cực đến một hoạt động, sự việc nào đó. Trong phạm vi của sự việc “khuyến khích lắp đặt pin năng lượng mặt trời” ở hộ gia đình, các bên liên quan được xác định bao gồm: chính phủ, các nhóm doanh nghiệp, công ty điện lực, tổ chức tài chính.

2.2.Kinh nghiệm khuyến khích lắp đặt pin năng lượng mặt trời trên thế giới

Trên thế giới có nhiều quốc gia đã tạo ra những cơ chế chính sách thích hợp cho việc phát triển điện mặt trời áp mái quy mô nhỏ để tận dụng tối đa mặt bằng trống sản xuất điện năng. Một số quốc gia tạo ra các gói hỗ trợ nhằm khuyến khích cá nhân và doanh nghiệp lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái (ví dụ Thụy Điển), một số quốc gia dùng cơ chế bắt buộc lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà như một phần không thể thiếu của tòa nhà trước khi vận hành (ví dụ Ấn Độ).

Thứ nhất, gói trợ cấp hấp dẫn có tác động kích thích cá nhân và doanh nghiệp lắp đặt hệ thống quang điện. Thậm chí hồ sơ nộp xin trợ cấp lớn gây áp lực không nhỏ lên chính quyền cấp tỉnh.

Thứ hai, thủ tục đề trình và xin trợ cấp mất rất nhiều thời gian so với thời gian lắp đặt hệ thống pin quang điện mái nhà và nối lưới. Quy định yêu cầu thủ tục xin trợ cấp cần thực hiện trước 6 tháng, trong khi đó việc lắp đặt công trình pin quang điện chỉ mất khoảng 1 tuần khi các nguồn lực vật chất sẵn sàng.

Thứ ba, lợi ích từ hệ thống quang điện mang lại cho hộ gia đình và doanh nghiệp khiến nhiều trường hợp tự đầu tư.

Thứ tư, chính phủ Thụy Điển đóng gói hỗ trợ hiện tại có nguy cơ làm giảm tốc độ tăng trưởng của điện mặt trời quy mô nhỏ tại nước này.

Thứ năm, ngược lại các chính sách bắt buộc lắp đặt tại Ấn Độ bị trì hoãn thời hạn nhiều lần do năng lực tài chính và nhận thức của đơn vị thi công. Đây là những bài học kinh nghiệm nên xem xét và cân nhắc khi triển khai các mô hình phát triển điện mặt trời tại tạo tại Việt Nam.

3.    Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện các phỏng vấn sâu và lập sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa các bên trong việc lắp đặt pin năng lượng mặt trời. Nghiên cứu thực hiện 20 phỏng vấn sâu đại diện các bên liên quan. Trong đó 05 phỏng vấn sâu là hộ gia đình đã lắp đặt pin năng lượng mặt trời, 05 hộ chưa lắp nhưng có khả năng và nhu cầu lắp đặt pin năng lượng mặt trời, 10 phỏng vấn sâu dành cho các đối tượng liên quan khác gồm: đại diện doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, đại diện chính quyền, đại diện ngân hàng/quỹ tài chính. Trong phạm vi giới hạn về kinh phí và nguồn lực, nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích và kỹ thuật quả cầu tuyết trong lấy mẫu phỏng vấn sâu.

4.    Kết quả nghiên cứu

4.1. Thực trạng vai trò của các bên liên quan trong khuyến khích lắp đặt pin NLMT áp mái ở Ninh Thuận

4.1.1.  Vai trò của chính quyền địa phương trong triển khai chính sách

Cơ quan quản lý tại địa phương đã thực hiện đúng các chức năng và nhiệm vụ trong công tác quản lý của cơ quan nhà nước đối với vấn đề điện NLMT mái nhà. Cơ quan có quản lý toàn bộ các điểm sản xuất điện năng, chính là các hộ gia đình lắp đặt pin mặt trời áp mái và phát điện lên lưới. Trong giai đoạn hiện tại, địa phương có phối hợp thực hiện các dự án nghiên cứu nhằm phát triển năng lượng tái tạo tại địa bàn. Song song với đó, địa phương cũng tổ chức hội thảo nghiên cứu về cùng chủ đề, có các băng rôn treo trong phạm vi thành  phố giúp tuyên truyền và nâng cao nhận thức của người dân về NLMT.

Kết quả phỏng vấn sâu đối với cán bộ Sở Công thương cho thấy cán bộ Sở tâm huyết với nhiệm vụ xây dựng chính sách liên quan đến cơ chế giá và cơ chế hỗ trợ cho điện mặt trời áp mái chung cũng như chính sách riêng của địa phương.

“Phía Sở có tham mưu xây dựng 1 quy trình, nhưng cần thống nhất quy định trên toàn tỉnh. Cơ chế chính sách chạy quá nhanh, làm không kịp” (PVS cán bộ Sở Công Thương).

Bên cạnh đó, quyết tâm của chính quyền cấp tỉnh trong phát triển điện mặt trời thể hiện rõ trong các văn bản chính sách của tỉnh và cụ thể trong chính sách triển khai các chương trình, dự án nghiên cứu có liên quan đến phát triển năng lượng tái tạo và NLMT tại địa phương. Không chỉ thế, còn được xác định là hướng ưu tiên của chính quyền cấp tỉnh. Điều này cho thấy nỗ lực của địa phương nhằm phát triển điện mặt trời.

“Hiện tại cán bộ Sở đang giúp đơn vị nghiên cứu thực hiện Dự án về nhằm phát triển điện mặt trời tại Ninh Thuận” (PVS cán bộ Sở Công Thương)

Như vậy, chính quyền địa phương có chủ trương rõ ràng và xác định điện áp mái là hướng ưu tiên trong phát triển. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc các chính sách chung của quốc gia về điện mặt trời áp mái được triển khai tích cực tại địa phương.

Đối với chức năng quản lý của Sở Công Thương, ngoài các chức năng chính đã được thực hiện rõ ràng thì có một số chức năng có liên quan nhưng không có hoạt động bao gồm: quản lý chất lượng pin NLMT; đánh giá về tác động môi trường của dự án pin NLMT. Về chức năng quản lý thị trường cụ thể là chất lượng pin NLMT yêu cầu cần có bộ tiêu chuẩn chất lượng kiểm định được rõ ràng được quy định. Tuy nhiên, hệ thống kiểm định chất lượng pin NLMT của Việt Nam chỉ mới có, do đó việc thực hiện chức năng quản lý chất lượng pin NLMT nằm ngoài năng lực của cán bộ tại địa phương.

4.1.2.   Vai trò của doanh nghiệp trong lắp đặt hệ thống NLMT áp mái

Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lắp đặt điện mặt trời bao gồm các đơn vị chính như: Doanh nghiệp kinh doanh pin NLMT, inverter; Doanh nghiệp cung cấp sản phẩm phụ trợ lắp đặt khác (giàn NLMT); Doanh nghiệp lắp đặt thiết bị pin NLMT. Các công ty lắp đặt chủ yếu là công ty nhỏ, chuyên thực hiện nhiệm vụ lắp đặt điện mặt trời cấp hộ gia đình.

Theo ý kiến của một số doanh nghiệp, những người làm dịch vụ lắp đặt điện mặt trời vừa học vừa làm. Thông thường, các đơn vị cung cấp dịch vụ lắp đặt pin NLMT áp mái cũng đồng thời cung cấp các thiết bị chính là pin NLMT, và bộ chuyển đổi nguồn điện (inverter), và các sản phẩm phụ trợ bao gồm giàn, khung giá đỡ.

Người dân cũng không quan tâm đến giá, họ quan tâm đến việc ký hợp đồng để có thể nối lưới” (PVS, doanh nghiệp lắp đặt)

Một số hộ gia đình tự lắp đặt pin NLMT áp mái cho hộ gia đình của mình. Tuy nhiên, đây là người có làm trong ngành điện và có mối quan hệ xã hội để liên hệ và mua các sản phẩm pin NLMT, inverter và các sản phẩm phụ trợ nếu cần cho việc lắp đặt hệ thống điện NLMT tại hộ.

 Nhà tôi tự lắp, người ta có hướng dẫn lắp nên tự làm, giảm được một chút so với thuê ở ngoài. Mình làm thì không mất tiền trả công thợ (PVS, nữ).

4.1.3.    Vai trò của công ty điện trong khuyến khích lắp đặt NLMT áp mái

- Hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân

Công ty tổ chức các hoạt động tuyên truyền đến người dân trong địa bàn sinh sống với nhiều hình thức đa dạng. Trong đó tập trung trước hết vào khai thác mạng lưới xã hội của các cán bộ đoàn thể, công nhân viên trong công ty. Từ các chủ thể này, công ty có cơ chế khuyến khích/thưởng đối với những người giới thiệu thêm được đồng mua bán điện từ pin NLMT. Từ cơ chế này, cá nhân sẽ tích cực tuyên truyền đến các mối quan hệ xã hội của mình, từ đó nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích thu được khi lắp pin NLMT, tăng số lượng lắp đặt pin NLMT. Phỏng vấn đại diện Công ty điện cho biết:

“Công ty tổ chức các lớp tư vấn riêng cho 6 đoàn thể và cấp giấy chứng nhận. Những người này khi giới thiệu được khách hàng lắp đặt NLMT nối lưới sẽ được nhận một khoản hoa đồng tùy thuộc vào quy mô công trình pin NLMT của hộ đó.” (PVS, nam, Đại diện công ty điện).

Ngoài chiến lược mở rộng qua mạng lưới xã hội của các cá nhân hay những cộng tác viên, công ty còn thực hiện chiến lược như mô hình kiểu mẫu, khuyến khích các cán bộ công nhân viên trong công ty lắp đặt pin NLMT và nối lưới với một khoản ưu đãi nhất định. Từ những mô hình mẫu là các gia đình của các cán bộ công nhân viên trong công ty sẽ tạo tính lan tỏa, tăng giá trị của hoạt động tuyên truyền qua cộng tác viên. Phỏng vấn sâu cán bộ nhân viên trong công ty điện, cũng là những người đi tiên phong trong việc lắp pin NLMT trước 30/06/2019 cho biết khi được hỏi về lý do lắp pin NLMT.

“Mình làm trong ngành điện nên biết rõ lợi ích. Qua phân tích thấy công nghệ cũng hiện đại. Dư thì bán được lên lưới, giảm được điện giá cao. Lúc bấy giờ lắp trước 30/06/2019 thì được ưu đãi. Công ty hỗ trợ 500 nghìn đồng với công suất dưới 5kw. Mình mời thêm được người khác lắp thì cũng có thêm hỗ trợ khác nữa.” (PVS, nữ, 37 tuổi)

- Triển khai hỗ trợ dịch vụ đấu nối lưới điện miễn phí

Hiện tại các vật tư và dịch vụ liên quan đến đấu nối lưới điện đang được thực hiện miễn phí cho khác hàng, bao gồm: Khảo sát, đánh giá hệ thống pin NLMT hộ gia đình, công tơ điện 2 chiều, chi phí lắp đặt công tơ điện 2 chiều, ký hợp đồng mua bán điện, dịch vụ tư vấn giải đáp thắc mắc của khách hàng. Điều này có nghĩa là khách hàng không phải trả bất kỳ phí nào liên quan đến dịch vụ và trang thiết bị phục vụ cho việc nối điện từ hệ thống NLMT mái nhà hộ gia đình lên lưới điện quốc gia. Toàn bộ thiết bị và dịch vụ tư vấn được thực hiện bởi công nhân viên công ty điện.

“Người dân chỉ cần gọi điện vào tổng đài cung cấp thông tin, sau đó có cán bộ kỹ thuật xuống khảo sát đường tải điện để xem gắn công tơ 1 chiều hay 2 chiều. Công tơ điện là miễn phí.” (PVS, nam, 40 tuổi, nhân viên kinh doanh công ty điện)

Kết quả trả lời phỏng vấn sâu của nhân viên kinh doanh của công ty điện và đại diện ban lãnh đạo của bên công ty điện lực đều cho thấy ý kiến thống nhất. Điều này cho thấy quy trình thực hiện khâu nối lưới điện của công trình điện áp mái đã được chuẩn hóa, và việc thực hiện của nhân viên ngành điện theo đúng quy định của ngành.

“Khách hàng cần lắp đặt liên hệ với trung tâm sẽ được tư vấn. Nếu khách hàng đã lắp đặt sẽ được hẹn lịch khảo sát. Nếu công trình đáp ứng đủ tiêu chuẩn của ngành điện thì sẽ giải quyết nhanh chóng trong 3 ngày” (PVS, đại diện công ty điện)

- Chi trả tiền điện cho hộ gia đình đã lắp đặt và nối lưới điện

Việc chi trả được thực hiện theo hợp đồng mua bán điện của phía công ty điện và khách hàng. Đối với các khách hàng lắp đặt trước 30/6/2019 thì đã được chi trả theo hóa đơn tiền điện hàng tháng, giao địch qua hóa đơn giấy hoặc thanh toán điện tử trên hệ thống. Đối với khách hàng lắp đặt sau 30/6/2019 đến nay (tại thời khảo sát) đang được xem xét cơ chế giá. Tại thời điểm đề tài thực hiện nghiên cứu tại địa phương, cơ chế giá đang có phương án dự thảo, chưa có quyết định chính thức nên chưa tiến hành phỏng vấn được dân. Tuy nhiên, tại thời điểm hoàn thành báo cáo, cơ chế thanh toán giá điện cho hộ gia đình đã được quy định với mức 1913 đồng/kWh cho hộ lắp trong giai đoạn từ 01/07/2019 đến 31/12/2019, và với mức giá 1940 đồng/kWh cho hộ lắp trong giai đoạn từ 01/01/2020 đến 31/12/2020 (Tập đoàn điện lực, 2020).

4.1.4.   Vai trò của đơn vị tài chính trong cung cấp gói tín dụng

Trên địa bàn của Ninh Thuận có nhiều ngân hàng đang hoạt động. Tuy nhiên, cho đến thời điểm giữa 2020, chỉ có 1 ngân hàng đưa ra gói tín dụng liên quan đến điện mặt trời. Đó là ngân hàng thương mại của nhà nước BIDV tỉnh Ninh Thuận. Nhân ngày đưa ra gói tính dụng “đầu tư dự án điện NLMT áp mái” cho các khách hàng là cá nhân vay vốn đầu tư phát triển điện NLMT áp với yêu cầu tài sản thế chấp là đất hoặc nhà ở. Lãi suất cho vay của BIDV hiện tại là 9% trong 12 tháng đầu tiên, từ tháng thứ 13 lãi suất thả nổi theo thị trường được điều chỉnh 6 tháng 1 lần. Tổng giá trị vôn vay tối đa là 100% gí trị đầu tư của hệ thống pin NLMT áp mái và không quá 2 tỉ đồng. Thời gian vay tối đa 96 tháng. Về bản chất, đây là gói tín dụng cho vay lãi suất tiêu dùng, gắn với việc lắp đặt pin năng lượng mặt trời ở hộ gia đình. Trên thực tế chưa tạo ra được lãi suất hay lộ trình ưu đãi để kích thích hộ gia đình lắp đặt pin năng lượng mặt trời.

4.2. Nhận xét về thực trạng mối quan hệ giữa các bên liên quan trong khuyến khích lắp đặt pin năng lượng mặt trời

4.2.1.   Vị thế của các bên liên quan trong khuyến khích lắp đặt pin NLMT

Nhà lập chính sách và thực thi chính sách có vai trò hết sức quan trọng đối với việc khuyến khích hộ gia đình lắp đặt pin NLMT thể hiện qua việc hình thành nên chính sách về giá bán điện và thị trường điện cạnh tranh. Hiện tại, các chính sách tại địa bàn tỉnh đang tập trung nhiều vào nhà máy điện NLMT hơn là vào khuyến khích hộ gia đình lắp đặt pin NLMT áp mái.

Trong phạm vi địa bàn tỉnh Ninh Thuận, công ty điện lực có vai trò chủ đạo trong việc thúc đẩy việc lắp pin NLMT áp mái cấp hộ gia đình thông qua hiện thực hóa các chính sách vĩ mô của nhà lập chính sách và thực thi chính sách tại địa phương. Cụ thể hóa thông qua hoạt động triển khai lắp đặt công tơ điện 2 chiều và ký hợp đồng mua bán điện một cách thuận tiện.

Trong hoạt động lắp đặt pin NLMT mái nhà hiện tại ở Ninh Thuận, ngân hàng chưa có nhiều vị trí trong việc khuyến khích hộ gia đình lắp đặt. Mặc dù các gói tín dụng dành cho cá nhân lắp đặt pin NLMT đã hình thành nhưng chưa thực sự hấp dẫn và thu hút khách hàng. Do đó, hiện tại ngân hàng đóng vai trò như một bên phụ trợ cho việc lắp đặt pin NLMT. Tuy nhiên, vị thế này hoàn toàn có thể thay đổi khi tạo ra liên kết chặt chẽ hơn giữa ngân hàng và công ty điện.

4.2.2.   Mối tương quan giữa các bên liên quan

Thứ nhất, sự kết hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ lắp đặt pin năng lượng mặt trời và công ty điện tạo thuận lợi cho thủ tục đấu nối lưới điện. Doanh nghiệp là bên cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho hộ gia đình. Doanh nghiệp sản xuất lớn có vai trò quan trọng trong phát triển sản phẩm. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu đảm bảo cung ứng sản phẩm cần thiết cho việc lắp đặt điện năng lượng mặt trời tại địa phương. Các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và dịch vụ đáp ứng nhu cầu về các sản phẩm phụ đi kèm quá trình lắp đặt diện năng lượng mặt trời. Cuối cùng là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ lắp đặt hệ thống điện năng lượng mặt trời cung cấp dịch vụ lắp đặt trên nền tảng sản phẩm sẵn có cho hộ gia đình. Doanh nghiệp lắp đặt pin năng lượng mặt trời thường kết hợp là việc cung ứng pin và inverter cho hệ thống pin năng lượng mặt trời.

Thứ hai, mối liên hệ chính thống giữa các bên còn gồm công ty điện, doanh nghiệp kinh doanh lắp đặt điện mặt trời áp mái, ngân hàng, và cơ quan quản lý tại địa phương yếu, thể hiện mờ nhạt. Điều này thể hiện rõ trong một số mối liên kết giữa ngân hàng và công ty điện hoặc doanh nghiệp lắp đặt điện mặt trời mái nhà trong việc hình thành các chính sách khuyến khích lắp đặt pin NLMT.

Thứ ba, liên hết giữa ngân hàng và công ty điện trong hình thành chính sách khuyến khích lắp đặt pin NLMT áp mái cho hộ gia đình là không có. Tại thời điểm nghiên cứu cho thấy, có bên ngân hàng chủ động gửi thư thông báo về chính sách cho vay của ngân hàng liên quan đến lắp đặt pin NLMT áp mái để công ty điện được biết, giới thiệu đến khách hàng. Tuy nhiên, không có sự liên kết sâu hơn giữa hai chủ thể này nhằm tạo cơ chế thuận lợi cho khách hàng trong vấn đề. 

Do đó, việc hình thành các liên kết chính thống và chặt chẽ hơn giữa các bên liên quan này là rất quan trọng đối với việc tạo thêm các cơ chế thuận lợi cho việc lắp đặt pin NLMT áp mái.

Bảng 1: Mối liên kết giữa các bên liên quan trong vấn đề lắp đặt pin năng lượng mặt trời mái nhà cấp hộ

Các bên liên quan

Chính quyền

Công ty điện

Doanh nghiệp lắp đặt pin NLMT

Ngân hàng/quỹ tín dụng

Chính quyền

/

***

N

N

Công ty điện

 

/

***

*

Doanh nghiệp lắp đặt pin NLMT

 

 

/

N

Ngân hàng/quỹ tín dụng

 

 

 

/

Nguồn: Tác giả

* : Mức độ liên kết . Càng nhiều *, mức độ liên kết càng cao.

4.3.  Sơ đồ vai trò của các bên liên quan trong khuyến khích lắp đặt pin năng lượng mặt trời

Quy trình lắp đặt pin NLMT mái nhà tại địa phương gồm các 6 bước. Trong đó, hộ gia đình là đối tượng chính nên tham gia vào phần lớn các bước của việc lắp đặt. Song song với đó, các bên liên quan khác cũng có vai trò chính trong một số khâu, nhưng luôn vai trò của hộ gia đình trong đó. Hộ gia đình là đối tượng chính trong việc chuẩn bị phương án tài chính, mặc dù ngân hàng cũng đã có mối quan tâm nhưng trên thực tế triển khai chưa có nhiều vai trò trong khâu này. Doanh nghiệp lắp đặt pin NLMT mái nhà thực hiện khâu số 2 và số 3 là khảo sát và lắp đặt hệ thống pin NLMT mái nhà. Công ty điện có vai trò chính trong thực hiện khâu số 4,5,6 về khảo sát tính khả thi của việc đấu nối lưới điện, lắp công tơ điện và ký kết hợp đồng mua bán điện với hộ gia đình. Tuy nhiên, công ty điện nên tham gia ngay từ khâu số 1 khi hộ gia đình có ý định lắp đặt hệ thống pin NLMT mái nhà để nối lưới tránh trường hợp hệ thống không đủ tiêu chuẩn đối nối.

 

 

 

 

 

 

 

 

Text Box: Cùng thực hiệnText Box: Quy trình lắp đặt hệ thống pin NLMT mái nhà

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Hình 1:  Sơ đồ vai trò của các bên liên quan trong lắp đặt pin NLMT mái nhà

 

4.5 Giải pháp nhằm tăng cường liên kết giữa các bên liên quan trong khuyến khích lắp đặt pin NLMT

Thực trạng vai trò và mối liên kết giữa các bên liên quan gồm công ty điện, doanh nghiệp kinh doanh lắp đặt điện mặt trời áp mái, ngân hàng, và cơ quan quản lý tại địa phương cho thấy một số vấn đề sau: Liên kết chính thống giữa các bên liên quan còn yếu; Thiếu sự liên kết giữa ngân hàng và công ty điện hoặc doanh nghiệp lắp đặt điện mặt trời mái nhà trong việc hình thành các chính sách khuyến khích lắp đặt pin NLMT; Ngân hàng đã chủ động tạo gói tín dụng dành cho cá nhân lắp đặt pin NLMT tuy nhiên lãi suất chưa hấp dẫn.

Vấn đề đặt ra là cần phải tăng cường sự liên kết giữa các bên này trong việc thực hiện cùng hợp tác tạo ra gói tài chính tín dụng hoặc mô hình tài chính thích hợp có đủ sức hấp dẫn với các bên. Các liên kết cụ thể được thể hiện rõ trong từng mô hình của gói tín dụng dành cho lắp đặt điện mặt trời áp mái. Mô hình hỗ trợ tập trung vào đối tượng thiếu nguồn lực 0-10kWp cho hộ gia đình có thu nhập trung bình thấp tập trung vào đối tượng chính sách, mô hình gói tín dụng hấp dẫn hướng đến đối tượng công trình điện mặt trời 10-20kWp cho tòa nhà văn phòng, doanh nghiệp có kinh doanh. Hơn nữa, đối với doanh nghiệp lắp đặt cần đa dạng hóa thêm các mô hình kinh doanh liên quan đến lắp đặt điện mặt trời mái nhà. Ngoài mô hình hiện tại là kinh doanh cung cấp thiết bị và dịch vụ lắp đặt điện mặt trời áp mái cho khách hàng cần chuyển hưởng sang mô hình thuê mái nhà của các hộ gia đình, các đơn vị, tòa nhà có nhu cầu. Điều này khai thác tốt hơn diện tích trống trong phát triển điện mặt trời tại địa phương.

 

Bên liên quan

Hành động tiếp theo

1.Chính quyền/sở- CT

Tăng cường quản lý thị trường về chất lượng pin NLMT.

Có nhiều các chính sách khuyến khích hộ gia đình lắp đặt pin NLMT hơn nữa.

Tạo ra gói hỗ trợ cho hộ gia đình Chính sách.

2.Doanh nghiệp

Tăng cường kết nối với các bên nhất là ngân hàng, tiếp cận đến các đối tượng hộ GD có thu nhập TB đến thấp.

Kết nối với công ty điện thực hiện các dự án thuê mặt bằng mái nhà.

3.Công ty điện

Kết nối nhiều hơn với ngân hàng trong các gói tín dụng.

4.Ngân hàng/ quỹ tài chính

Tạo ra nhiều gói tín dụng hấp dẫn hơn đặc biệt các gói tín dụng hỗ trợ đối tượng chính sách.

Kết hợp với công ty điện/doanh nghiệp trong một số các gói tín dụng cho vay nhằm khuyến khích lắp đặt pin NLMT.

3.Hộ gia đình

Chủ động tìm hiểu, tiếp cận các gói hỗ trợ ưu đãi.

Chủ động tiếp cận các bên liên quan khác đầu tư điện mặt trời áp mái hộ gia đình.

 Bảng 2: Khuyến nghị hành động cho các bên liên quan nhằm thúc đẩy lắp đặt pin năng lượng mặt trời mái nhà hộ gia đình

Như vậy, cần có chính sách vĩ mô của nhà nước với gói tài chính hỗ trợ và sự liên kết mạnh mẽ giữa các bên liên quan bao gồm ngân hàng, công ty điện, doanh nghiệp kinh doanh lắp đặt pin NLMT. Sự liên kết chặt chẽ và các gói tín dụng hấp dẫn với nguyên tắc các bên đều có lợi giúp khai thác lợi thế của địa phương trong phát triển. Điều này cũng sẽ góp phần cho việc đảm bảo sự phát triển an ninh năng lượng, và đảm bảo sự tiếp cận công bằng giữa các nhóm, và thân thiện với môi trường.

- Mô hình 1: Bắt buộc lắp đặt hệ thống pin NLMN đối với tòa nhà mới xây. Mô hình này có sự kết hợp giữa bên xây dựng, công ty điện, đơn vị quản lý đô thị. Theo đó, các công trình này chỉ được vận hành khi tòa nhà đã lắp đặt hệ thống pin năng lượng mặt trời. Diện tích lắp đặt tối thiểu là 50% đến 80% diện tích mái nhà của công trình xây dựng. Do là điều kiện bắt buộc của công trình xây đựng đi vào hoạt động nên việc lắp đặt pin năng lượng mái nhà tòa không cần xin phép để tạo thuận lợi.

- Mô hình 2 - Gói vay hấp dẫn 1: Hộ gia đình đăng lý lắp đặt pin NLMT mái nhà, toàn bộ chi phí do phía Ngân hàng trả. Trong thời gian 8 năm đầu tiên, toàn bộ sản lượng điện sản xuất được bán cho bên điện lực, thanh toán cho ngân hàng. Hộ gia đình vẫn trả tiền điện hàng tháng như bình thường. Sau 8 năm, khi hoàn được vốn và lãi cho ngân hàng, hệ thống pin NLMT thuộc sở hữu hộ gia đình. Mô hình này cần có sự liên kết giữa hộ gia đình, ngân hàng, công ty điện.

- Mô hình 3 - Gói vay hấp dẫn 2: Hộ gia đình đăng ký lắp đặt pin NLMT mái nhà, toàn bộ chi phí do phía Ngân hàng trả. Trong thời gian 7-8 năm đầu tiên, toàn bộ sản lượng điện sản xuất đẩy lên lưới được thanh toán cho ngân hàng. Hộ gia đình vẫn trả tiền điện tiêu thụ hàng tháng (tiền đã giảm). Sau 7-8 năm nay, khi hoàn được vốn và lãi cho ngân hàng, hệ thống pin NLMT thuộc sở hữu hộ gia đình. Khác với gói số 1, toàn bộ hệ thống pin NLMT mái nhà tròn 7-8 năm đầu coi như cho thuê hoàn toàn, không thuộc sở hữu của hộ, ở gói số 2 hộ gia đình có sở hữu nhưng phần điện giảm được mỗi tháng sau khi lắp đặt lại thanh toán cho ngân hàng. Ở mô hình 2 thời gian hoàn trả cho ngân hàng sẽ lâu hơn.

- Mô hình 4 - Gói vay tiêu dùng 3: Ở mô hình này, hộ gia đình vay ngân hàng lắp đặt hệ thống điện theo lãi suất dành riêng cho đối tượng lắp điện mặt trời.

- Mô hình 5 - Hỗ trợ chính sách: Tập trung vào đối tượng chính sách. Ở mô hình này, hộ gia đình vay ngân hàng lắp đặt hệ thống điện theo lãi suất dành riêng cho đối tượng lắp điện mặt trời của ngân hàng chính sách theo chính sách của Chính phủ. Mô hình này cần cân nhắc tạo chính sách đặc thù cho một số tỉnh thành có ưu thế đặc biệt về điện mặt trời trong cả nước.

5.    Kết luận và thảo luận

Thứ nhất, trong cơ chế khuyến khích lắp đặt pin NLMT mái nhà cho thấy mỗi bên có một vai trò quan trọng khác nhau. Để việc lắp đặt pin NLMT mái nhà được thực hiện ngày càng phổ biến thì cơ chế chính sách của cơ quan nhà nước đóng góp một phần quan trọng. Trong đó cơ chế giá và chính sách cụ thể trong chi trả tiền điện ở hợp đồng mua bán điện có tính chất quyết định. Cơ chế về giá được quyết định dưới chính sách của nhà nước. Sự quan tâm của chính quyền địa phương đến lĩnh vực điện tái tạo nói chung và điện mặt trời nói riêng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển của hệ thống pin năng lượng mái nhà của địa phương.

Thứ hai, trong phạm vi địa bàn tỉnh Ninh Thuận, công ty điện lực có vai trò chủ đạo trong việc thúc đẩy việc lắp pin NLMT áp mái thông qua hiện thực hóa các chính sách vĩ mô của ngành điện, và triển khai lắp đặt công tơ điện 2 chiều, ký hợp đồng mua bán điện với khách hàng. Như đã biết, hệ thống điện mặt trời áp mái có thể bám lưới, lưu trữ hoặc nối lưới. Tuy nhiên, hình thức có hiệu quả kinh tế nhất là điện mặt trời áp mái nối lưới do đường biểu diễn tiêu thụ điện của khách hàng trong ngày không phải lúc nào cũng song song với đường sản xuất điện của hệ thống điện áp mái. Hơn nữa, điện áp mái chỉ có thể sản xuất điện vào thời gian ban ngày. Do đó, việc tạo thuận lợi cho việc kết nối lưới điện và ghi nhận số điện lưới điện của công ty điện với khách hàng đã tạo ra cú hích lớn đối với thị trường lắp đặt điện áp mái ở Ninh Thuận. Tuy nhiên, để hiện thực hóa chính sách, nhiều hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức, quảng bá chính sách đã được tiến hành và có hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao nhận thức và sự hiểu biết của người dân trong việc tiếp cận nguồn điện này.

Thứ ba, sự kết hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ lắp đặt pin NLMT và công ty điện tạo thuận lợi cho thủ tục đấu nối lưới điện. Doanh nghiệp là bên cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho hộ gia đình. Doanh nghiệp sản xuất lớn có vai trò quan trọng trong phát triển sản phẩm. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu đảm bảo cung ứng sản phẩm cần thiết cho việc lắp đặt điện NLMT tại địa phương. Các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và dịch vụ đáp ứng nhu cầu về các sản phẩm phụ đi kèm quá trình lắp đặt điện NLMT. Cuối cùng là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ lắp đặt hệ thống điện NLMT cung cấp dịch vụ lắp đặt trên nền tảng sản phẩm sẵn có cho hộ gia đình. Doanh nghiệp lắp đặt pin NLMT thường kết hợp là việc cung ứng pin và inverter cho hệ thống pin NLMT. Doanh nghiệp cần mở rộng thêm sang các mô hình thuê mái tòa nhà để lắp đặt pin NLMT sử dụng hiệu quả không gian trống cho công nghiệp năng lượng tại địa phương.

Thứ tư, ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc tạo ra gói tín dụng cung cấp nguồn tài chính ban đầu để lắp đặt điện mặt trời áp mái. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với công trình quy mô nhỏ (<5 kwp) ở các hộ gia đình dễ bị tổn thương với năng lực tài chính hạn chế; dự án quy mô lớn hơn (>50kwp) ở các cá nhân và doanh nghiệp có kinh doanh. Đối với gói tín dụng dành cho cá nhân, ngân hàng thương mại của nhà nước BIDV tỉnh Ninh Thuận đã triển khai gói tín dụng “đầu tư dự án điện NLMT áp mái” . Về bản chất, đây là gói tín dụng cho vay lãi suất tiêu dùng, gắn với việc lắp đặt pin NLMT ở hộ gia đình. Trên thực tế chưa tạo ra được lãi suất hay lộ trình ưu đãi để kích thích hộ gia đình lắp đặt pin NLMT do đó cần có sự phối hợp với các bên để tạo ra các gói tín dụng hấp dẫn phù hợp với từng đối tượng vay vốn.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính trên mẫu có quy nhỏ tại địa phương. Do đó, nghiên cứu này không có điều kiện tham vấn các bên liên quan ở cấp quản lý chung, phần lớn các trường hợp khảo sát tập trung và người trực tiếp, thực hiện các chính sách của các bên liên quan tại địa phương. Do nghiên cứu tiếp theo có thể nâng cấp bằng việc bổ sung đại diện là cơ quan quản lý ở cấp cao hơn để có cái nhìn vĩ mô hơn nữa. Đối với nội dung nghiên cứu, đề tài này chưa làm rõ được liên kết phi chính thức giữa các bên. Nghiên cứu tiếp theo cũng có thể tiếp tục hướng nghiên cứu này để làm rõ các liên kết này có tác động như thế nào đến việc thực hiện chính sách. Ngoài ra, một nghiên cứu tương tự tại một địa bàn nghiên cứu khác sẽ là một bằng chứng để so sánh tốt hơn vai trò và mối liên kết giữa các bên trong lắp đặt pin NLMT hộ gia đình. Các nghiên cứu sâu hơn trong lĩnh vực tài chính có thể cho thấy tính khả thi của việc thực hiện các liên kết giữa các bên và tính hiệu quả của việc tiến hành các mô hình cho vay như đã khuyến nghị. Tuy nhiên, hơn hết các nhà môi trường cũng có thể tiếp tục hướng nghiên cứu về tác động môi trường của việc lắp đặt pin NLMT trước xu thế gia tăng nhanh chóng đang diễn ra tại Việt Nam cũng như tại địa bàn nghiên cứu.

Tài liệu tham khảo

-      BIDV chi nhánh Ninh Thuận. (2020). Công văn số 1011/CV-BIDV.NT ngày 20 tháng 05 năm 2020 về việc Chính sách cho vay đầu tư dự án điện năng lượng mặt trời áp mái.

-      Donaldson, T., and Preston, L.E., (1995). The Stakeholder Theory of the Corporation: Concepts, Evidence, and Implications Author(s), The Academy of Management Review, Vol. 20, No. 1 (Jan., 1995), pp. 65-91.

-      EVN. (2020). Quyết định số 3725/EVN-KD ngày 01 tháng 06 năm 2020 về việc ký hợp đồng và thanh toán tiền điện đối với các hệ thống ĐMTMN sau 20/06/2019.

-      Fontaine, C., Haarman, A., Schmid, S. (2006). The stakeholder theory, https://pdfs.semanticscholar.org/606a/828294dafd62aeda92a77bd7e5d0a39af56f.pdf

-      Freeman, R.E. (1984). “Strategic Management: A stakeholder Approach”. Boston, MA: Pitman.

-      Greenley, G.E. and Foxall, G.R. (1997). Multiple stakeholder orientation in UK companies and the implications for company performance, Journal of Management Studies, Vol. 34 No.2, pp. 259-284.

-      Li, YH. O’Donnell, J., García-Castro, R., Vega-Sánchez, S., Mihindukulasooriya, N., O’Donnell, J. (2019). Enhancing energy management at district and building levels via an EM-KPI ontology, Automation in Construction, vol 99, pp.152-167.

-      Qurehi, T.M., Ullad, K., Arentsen, M.J. (2017). Factors responsiblie for solar PV adoption at household level: a case of Lahore, Paskistan. Renewable and sustainable Energy Reviews, 78, pp.754-763.

-      Thủ Tướng Chính Phủ. (2020). Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg ngày 06 tháng 04 năm 2020 về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam.