Hiển thị các bài đăng có nhãn WorkShop. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn WorkShop. Hiển thị tất cả bài đăng

19 thg 3, 2018

Tổng quan các chương trình hành động nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu trên thế giới và ở Việt Nam

TỔNG QUAN CÁC CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG NHẰM ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM*
Ths. TTTD

1.     Mở đầu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một vấn đề toàn cầu, được hầu hết các quốc gia quan tâm do tầm ảnh hưởng của nó trên phạm vi toàn thế giới. Trong hai năm trở lại đây, thế giới không ngừng trải qua cực trị về nhiệt độ và các hiện tượng thiên tai bất thường gia tăng một cách đột biến. Năm 2015, tổng lượng phát thải CO2 quy đổi trên toàn thế giới là 34 tỷ tấn[1] vẫn có xu hướng tăng lên. Gia tăng lượng phát thải khí nhà kính có khả năng tăng mực nước biển, tăng nhiệt độ trung bình, và gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan trên toàn thế giới.
Năm 1992, Ủy ban liên chính phủ về BĐKH được thành lập nhằm giải quyết các vấn đề về biển đổi khí hậu, tập trung vào việc cắt giảm lượng phát thải khí nhà kính ở các quốc gia, cũng như  triển khai các chương trình hành động lớn trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, trong các nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu còn rất nhiều quan điểm trái ngược nhau, giai đoạn hiện tại không được đồng thuận trên rộng rãi giữa các quốc gia thành viên. Mặc dù biến đổi khí hậu và cắt giảm khí nhà kính đã được đề cập đến từ năm 1992 nhưng cho đến năm 2008 thế giới mới đồng thuận quan điểm cho rằng con người là tác nhân chính gây nên biến đổi khí hậu,và đi đến việc thống nhất thực hiện giai đoạn đầu của Nghị định thư Kyoto từ năm 2008 đến 2012. Cho đến giai đoạn 2 của chương trình 2015-2020, vẫn chưa được chính thức thông qua do chưa đủ các quốc gia ký kết vòng đàm phán Doha. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi ủng hộ môi trường cho thấy, có tồn tại khoảng cách do tâm lý ỷ lại, đổ lỗi trách nhiệm giữa các bên tạo nên sự chậm trễ trong hành động dẫn đến thâm hụt thích ứng (IPCC, 2012).
Căn cứ trên những bằng chứng khoa học và cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu các chương trình hành động vì biến đổi khí hậu được thực hiện rộng rãi trên phạm vi toàn cầu cũng như ở cấp độ khu vực và các quốc gia. Việc tổng hợp lại các chương trình hành động ở các cấp độ cho thấy cái nhìn tổng quát về các hành động ứng phó với biến đổi khí hậu là cần thiết để xác định những khoảng còn trống trong các hoạt động trước đó nhất là đối với trường hợp Việt Nam – một quốc gia có tính dễ bị tổn thương cao trước biến đổi khí hậu. Nhận thức là cơ sở, điều kiện đầu tiên để cá nhân xuất hiện ý định hành vi và thực hiện hành vi[2], vì vậy trong phạm vi bài viết sẽ tập trung đến các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức về tính cấp bách của biến đổi khí hậu và sự cần thiết của các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu.
2.  Các chương trình về biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu và Việt Nam
2.1.         Cơ sở khoa học cho việc thực hiện các chương trình hành động về biến đổi khí hậu trên thế giới
Cơ sở đầu tiên cho những chương trình hành động hay dự án cũng như sự quan tâm đến vấn đề biến đổi khí hậu của toàn cầu đó là các bằng chứng và các cơ sở khoa học từ  Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC). IPCC được thành lập từ năm 1988 do tổ chức khí tượng thế giới (WMO) và Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP) tập hợp các nhà khoa học từ nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới. Thông qua nghiên cứu của họ để đưa ra các báo cáo một cách toàn diện về các vấn đề liên quan đến BĐKH và tác động của nó trên lĩnh vực kinh tế xã hội và môi trường, từ đó đưa ra các chiến lược ứng phó. Chính các báo cáo của IPCC là cơ sở cho việc hình thành UNFCCC. Các báo cáo thường xuyên của IPCC trên 3 nhóm lĩnh vực[3]: cơ sở khoa học vật lý; tác động, thích ừng và tính dễ bị tổn thương; giảm nhẹ biến đổi khí hậu và các nhiệm vụ về kiểm kê khí nhà kính các quốc gia giúp thế giới nhận dạng rõ hơn các vấn đề về biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của nó đến hoạt động của con người. Mặc dù, có nhiều ý kiến phê bình về các báo cáo của IPCC về các dự báo nhưng các báo cáo IPCC có vai trò quan trọng trong việc thực hiện đàm phán các bên tham gia cũng như mở ra các chương trình hành động cấp toàn cầu, khu vực và quốc gia. Ngoài ra, để cung cấp luận chứng, luận cứ cho việc chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu trên thế giới còn có chương trình nghiên cứu của các tổ chức lớn như WMO (tổ chức khí tượng thế giới) với chương trình nghiên cứu toàn cầu về biến đổi khí hậu, tính dễ bị tổn thương, tác động và thích ứng (PRO-VIA[4]), chương trình nghiên cứu của các quốc gia Hoa Kỳ (chương trình nghiên cứu biến đổi khí hậu của chính phủ Hoa Kỳ -CCSP).
2.2.         Khung pháp lý cho việc thực hiện
Vấn đề biến đổi khí hậu được đề cập trên cấp độ toàn cầu lần đầu tiên trong khung công ước liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) năm 1992. Mục tiêu chính của khung là “ổn định nồng độ các khí nhà kích trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được những tác động nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu”. Công ước này không mang tính pháp lý đối với các bên tham gia mà chỉ mang tính chất là một công cụ để các bên đàm phán các cam kết trong việc giảm thiểu phát thải khí nhà kính. Tiếp sau đó, các quốc gia tham gia khung thành lập ủy ban đàm phán liên chính phủ về công ước khung vào năm 1994. Sau đó, từ năm 1995 hội nghị các bên tham gia (COP) được tổ chức hàng năm để đánh giá các vấn đề về biến đổi khí hậu. Nhưng chỉ từ năm 1997 sau Nghị định thư Kyoto được kí kết, mới tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện. Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia đều tham gia, mà ngược lại các quốc gia đóng góp nhiều vào lượng phát thải khí nhà kính lại từ trối kí kết hiệp định. Đến năm 2012 có 192 bên tham gia[5] kí kết vào Nghị định thư giai đoạn 2008-2012. Tuy nhiên, sau vòng đàm phàn Doha cho đến nay chỉ có 66 quốc gia chấp nhận sửa đổi Doha trong khi có vòng đàm phàn này yêu cầu tồi thiểu có 144 quốc gia chấp nhận mới có hiệu lực. Một điều đáng chú ý khác là các quốc gia có lượng phát thải lớn như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ … đều không tham gia vào Nghị định thư. Đối với vấn đề mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu thì đây là cản trở lớn cho việc tiến hành các hoạt động ứng phó.
2.3.         Một số chương trình hành động lớn trên thế giới
·        Cấp độ toàn cầu
Các chương trình hành động BĐKH mang tính toàn cầu. Về mặt thể chế, biến đổi khí hậu được qua trong chính sách của các quốc gia tham gia nghị định thư Kyoto và các kí kết đàm phán về việc cam kết mức cắt giảm khí nhà kính. Đối với mỗi nhóm quốc gia khác nhau có các hoạt động ứng phó khác nhau phù hợp với mức đóng góp phát thải cho vấn đề biển đổi khí hậu toàn cầu. Sau Hội nghị các bên COP16 tại Dubai năm 2010, khung thích ứng CAF được thông qua, các quốc gia thực hiện các nội dung và chương trình hành động. Cho đến COP17 các quốc gia có nhiều nỗ lực hơn trong việc thực hiện cam kết. Theo đó, ở cấp độ toàn cầu, UNFCCC thành lập quỹ khí hậu xanh (GCF) tạo vốn cho việc hỗ trợ hoạt động thích ứng và giảm thiểu ở các quốc gia. Đối với các nước đang phát triển thực hiện chương trình đành động thích ứng (NAPAS) và đối với các nước kém phát triển thực hiện các hoạt động thích ứng quốc gia (NAP).
Ở cấp độ toàn cầu, các chương trình hành động về biến đổi khí hậu đặc biệt chú ý đến thanh niên, những người chủ tương lai và cũng là những người có nhiều khả năng bị ảnh hưởng lớn từ biến đổi khí hậu trong tương lai. Có rất nhiều các chương trình được thực hiện bởi các tổ chức lớn trên thế giới như UNEP, WB, OECD, OTFRAM, UNESCO … hoặc sự phối hợp giữa các NGOs toàn cầu hoặc từ Chính phủ của các quốc gia phát triển. Phần nhiều là các hoạt động nhằm tăng cường năng lực thích ứng và đầu tư nghiên cứu cho khoa học công nghệ tái chế, giảm phát thải. Có một số các chương trình truyền thông lớn nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi lối sống, tạo sự lan tỏa trong cộng đồng.  Các chương trình lớn ở cấp độ toàn cầu có thể kể đến bao gồm: Thanh niên và biến đổi khí hậu (Youth & Climate) được tài trợ chính bởi UNICEF và chính phủ Hà Lan; Sáng kiến kết nối vì khí hậu (connect4climate[6]) ; chương trình nền tảng sáng kiến khí hậu (CIP[7]) (UNEP, UNEP DTU, NORDEN tài trợ); và Chương trình hành động vì khí hậu[8] (UNEP thực hiện); Chương trình giáo dục biến đổi khí hậu vì sự phát triển bền vững[9] (UNESCO).
Chương trình “thanh niên và thay đổi lối sống trong điều kiện với BĐKH” được tài trợ bởi UNESCO và UNEP và ra sách hướng dẫn này nằm trong một loạt các hoạt động bao gồm cả phim về biến đổi khí hậu để nâng cao nhận thức mà quan trọng hơn đó là thực sự chuyển nhận thức thành hành vi ở những người trẻ tuổi. Tập trung vào đối tượng thanh niên có độ tuổi từ 15 đến 24, giảng viên và các nhà lãnh đạo trẻ. Chương trình thực hiện với các đối tác ở 54 quốc gia trên thế giới. Các hoạt động của Chương trình này được triển khai ở cấp độ quốc gia, và cấp độ địa phương. Các chủ đề hướng đến bao gồm: tiêu thụ bền vững, lối sống, giảm chất thải, sử dụng năng lượng và tài nguyên hiệu quả, mua sắm thông minh và chịu trách nhiệm (UNEP & UNESCO, 2001).
Chương trình “giáo dục biến đổi khí hậu vì sự phát triển bền vững” được thực biện bởi UNESCO nhằm giúp mọi người hiểu được tác động của biến đổi khí hậu đang càng ngày càng lớn. Chương trình truyền thông bằng cách tăng cường năng lực của các quốc gia thành viên trong việc tích hợp nội dung biến đổi khí hậu trong giảng dậy.
Chiến dịch liên kết vì khí hậu (Connect4climate hay C4C) được đưa ra bởi Ngân hàng thế giới và Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) với sự tham gia của các cơ quan của Liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức xã hội dân sự khác. Đây là chương trình hợp tác toàn cầu dành riêng cho truyền thông về biến đổi khí hậu thông qua các hoạt động cụ thể bao gồm: các cuộc thi, sự kiện và sáng kiến chia sẻ kinh nghiệm về biến đổi khí hậu: cạnh tranh Châu Phi 2011-Durban COP17; liên kết vì khí hậu: công nghệ, sáng tạo và hành động – 28/06/2012; tiếng nói đấu tranh cho khí hậu 2012; đấu tranh TerrAfrica Podcast; Quyền ở đây, quyền ngay bây giờ 1/3/2013; cạnh tranh Tôi thay đổi; đối thoại Alcantara Nghĩ lại, thiết kế lại, tin tức lại; xây dựng sự thay đổi cho thành phố sinh thái 2013; giám hộ biến đổi khí hậu Hub; hội thảo thay đổi; khí hậu; hành động cho khí hậu Bracelet; thể thao cho khí hậu. Ngoài ra, chiến dịch kết nối vì biến đổi khí hậu còn phổ rộng trong 8 nhóm chủ đề khác nhau mà giới trẻ quan tâm: Thời trang vì khí hậu – Fashion4climate; phim vì khí hậu – Film4climate; âm nhạc vì khí hậu- music4climate. Ngoài ra, còn có các nhóm tạo sử đổi mối thực sự của thanh niên như: đổi mới vì khí hâu – innovation4climate; Nhà lãnh đạo vì khí hậu – leaders4climate; and thanh niên và khí hậu – youth4climate. Các chương trình này thực hiện việc vận động, hỗ trợ hoạt động, nghiên cứu và xây dựng năng lực. Thu hút sự tham gia của các bên tạo ra một cộng đồng toàn cầu quan tâm đến biến đổi khí hậu và có hành động cụ thể đổi với vấn đề này.
Các hoạt động và chương trình BĐKH này được truyền thông rộng rãi và được nhiều lượt theo dõi thông qua các trang mạng xã hội lớn trên thế giới như facebook, twitter, Youtube, Instagram, Google cộng, Vimeo ... Chưa có báo cáo đánh giá về hiệu quả của các hoạt động của các chương trình biến đổi khí hậu nhưng chắc chắn nó mang lại sự truyền thông về biến đổi khí hậu rộng rãi trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, theo dõi trên các mạng xã hội lớn cho thấy lượng theo dõi các trang này rất nhỏ so với những trang thông tin khác[10]. Ví dụ lượng theo dõi trang connect4climate trên các ứng dụng Facebook[11] là trên 588 nghìn người theo dõi[12] (chỉ bằng 10% số thanh niên sử dụng facebook[13]), trên Twitter[14] là 187 nghìn người theo dõi, trên Instagram[15] là hơn 3,6 nghìn người theo dõi, trên Google+[16] là 43 người theo dõi (với 53 nghìn lượt xem), trên Youtube[17] là 617 người đăng kí theo dõi. Điều này là một dấu hiệu cho thấy sự lan tỏa và mức ảnh hưởng của chương trình này chưa cao. Đối tượng mục tiêu của các chương trình này chưa có nhiều sự quan tâm cho các hoạt động cho vì biến đổi khí hậu.
·        Chương trình hành động ở cấp độ khu vực
Ở cấp độ khu vực phân theo khu vực của các quốc gia trên thế giới các chương trình hoạt động chủ yếu là hỗ trợ cho các nghiên cứu và các chương trình hành động. Tính từ 1987 đến 2016, chỉ riêng WB đã đầu tư tổng cộng 335 dự án về biến đổi khí hậu chiếm 40,2% tổng tất cả các dự án mà WB đã đầu tư. Trong số đó, hiện có 128 dự án về biến đổi khí hậu đang thực hiện chiếm 38,2% tổng dự án được đầu tư cho đến nay. Các chương trình dự án cũng tập trung nhiều hơn tại các khu vực địa lý có mức độ tổn thương cao trước biến đổi khí hậu ví dụ Đông Á Thái Bình Dương. Khu vực này chiếm 28,4% tổng số dự án được WB đầu tư trong 30 năm qua. Về lĩnh vực đầu tư của WB, chủ yếu là các dự án về nguồn năng lượng tái tạo. Trong giai đoạn từ 2015 hình thành nhóm ngân hàng thế giới (WBG) tiếp tục thực hiện các hoạt động liên quan đến biến đổi khí hậu. WBG hoạt động dưới kế hoạch hành động vì biến đổi khí hậu tập trung vào 4 nội dung chính cho đến năm 2020 là: Hỗ trợ chuyển hóa về thể chế và chính sách; đòn bẩy nguồn lực; tăng cường hoạt động khí hậu: quá trình lập lại trật tự nội bộ và làm việc cùng với các bên khác. Tất cả những hỗ trợ này nhằm mục tiêu: thực hiện, hội tụ, ảnh hưởng lớn nhất, ứng phó, chuyển hóa (WBG, 2016).
2.4.         Chương trình và kế hoạch hàng động ở Việt Nam
Ở Việt Nam, một thời gian dài từ sau Nghị định thư Kyoto của Công ước khung của Liên hợp quốc, từ khóa “biến đổi khí hậu” được đề cập đến trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, cho đến năm 2005 có Chỉ thị 35 về việc thực hiện nội dung liên quan đến biến đổi khí hậu và đến năm 2011 có quyết định chính thức phê duyệt Chiến lược quốc gia về Biến đổi khí hậu. Từ đó đến nay đã có 202 văn bản được cơ quan TW ban hành liên quan đến biến đổi khí hậu. Năm 2011 Việt Nam phê duyệt chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu. Đến năm 2013 phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn 2012-2020.
Trong giai đoạn 2012-2015 Việt Nam đã phê duyệt 10 chương trình ưu tiên: Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2012 – 2015; Chương trình khoa học công nghệ quốc gia về biến đổi khí hậu; Hiện đại hóa công nghệ dự báo và mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn đến năm 2020; Chương trình đồng bằng sông Cửu Long và Chương trình đồng bằng sông Hồng về quản lý tài nguyên nước và thích ứng với biến đổi khí hậu;  Đề án kiểm kê, giám sát phát thải khí nhà kính và quản lý các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính;  Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu cho các đô thị lớn của Việt Nam, ưu tiên thực hiện các dự án chống ngập úng các thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Cần Thơ; Chương trình nâng cấp và cải tạo hệ thống đê biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam và từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang, đê sông hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình và các sông khu vực Bắc Trung Bộ theo chương trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng; Đề án nâng cấp hệ thống chăm sóc sức khỏe cộng đồng phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng; Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các đảo dân sinh ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; Đề án xây dựng thí điểm mô hình cộng đồng ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Sau đó là Quyết định 1183 phê duyệt Chương trình quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2012 – 2015 do Bộ tài nguyên và Môi trường làm cơ quan chủ quản. Nội dung Chương trình có đề cập đến vấn đề xây dựng cộng đồng ứng phó với biến đổi khí hậu bao gồm các nhiệm vụ xây dựng mô hình, nâng cấp hệ thống chăm sóc sức khỏe cộng đồng, giáo dục đào tạo và nâng cao nhận thức để ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong đó có đề cập đến nhiệm vụ cụ thể đặt ra đối với lối sống và biến đổi khí hậu là “Tăng cường ý thức, trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm cộng đồng trong phòng, tránh và khắc phục hậu quả thiên tai; xây dựng lối sống, mẫu hình tiêu thụ thân thiện với khí hậu cho mọi thành viên của cộng đồng; khuyến khích, nhân rộng các điển hình tốt trong ứng phó với biến đổi khí hậu”.
Ở cấp các cơ quan Bộ và ngang Bộ, từ năm 2010 đến tháng 06/2016 đã có 8 Bộ ban hành Kế hoạch hành động: Bộ Xây dựng, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động và Thương binh xã hội, Bộ giáo dục và đào tạo, Bộ khoa học và công nghệ. Đến tháng 6/2014 đã có 61/63 tỉnh thành cũng đã xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của cấp tỉnh (Bảo Minh, 2014). Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học có 16 nhiệm vụ đã được thực hiện thuộc Chương trình khoa học công nghệ phục vụ cho Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, các nội dung thực hiện cho đến nay chủ yếu dừng lại ở mức nâng cao nhận thức của người dân và cộng đồng, chưa thấy hoạt động nào hướng đến xây dựng hay thay đổi lối sống theo theo mô hình tiêu thụ thân thiện với môi trường và khí hậu.
Trong lĩnh vực giáo dục nhằm nâng cao nhận thức trước hết cho cán bộ trong ngành giáo dục, thế hệ trẻ và các đối tượng khác ngoài trường học. Bộ giáo dục thực hiện đề án “Thông tin, tuyên truyền về ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai trong trường học giai đoạn 2013-2020”.  Mục tiêu đến năm 2015 bảo: 80% cán bộ, giáo viên, giảng viên, nhân viên trong cơ sở giáo dục và cấp quản lí giáo dục được nâng cao nhận thức và kĩ năng thông tin, tuyên truyền về ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai; 80% trẻ em các trường mẫu giáo và học sinh, sinh viên các trường phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học được tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, kĩ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi về ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai (nhất là các hiện tượng thời tiết bất thường) ở địa phương; 50% cha mẹ học sinh trong cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và 30% cộng đồng dân cư thuộc địa bàn của trường được Tuyên truyền nâng cao nhận thức về ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai (Bộ giáo dục và đào tạo, 2014). Trong nhiệm vụ có thực hiện khảo sát, đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành và nhu cầu của trẻ em, học sinh, sinh viên, cán bộ, giáo viên, giảng viên, nhân viên về công tác thông tin, tuyên truyền về ứng phó biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai trong trường học.
3.     Tiểu kết
Biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu được sự đồng thuận giữa các bên. Đổ lỗi trách nhiệm và tâm lý ỷ lại giữa các quốc gia làm chậm lại tiến trình ứng phó và tăng cường thâm hụt thích ứng với biến đổi khí hậu. Vì vậy, cần sự chung tay của tất cả các bên trong giải quyết vấn đề, trước tiên đó là truyền thông, nâng cao nhận thức, chuyển thành những hành động cụ thể vì biến đổi khí hậu.
Các chương trình về  biến đổi khí hậu là rất đa dạng. Các nghiên cứu khoa học đặt cơ sở cho các Hội nghị mang tầm quốc tế và các Chương trình hành động đi cùng. Giai đoạn đầu, tập trung vào nghiên cứu khoa học và công nghệ dành cho thích ứng. Các hoạt động thích ứng và giảm thiểu được thực hiện nhiều hơn ở các quốc gia có mức độ tổn thương cao và ít có điều kiện để tự ứng phó với mức kinh phí không nhỏ từ các tổ chức quốc tế. Các chương trình hành động trong lĩnh vực truyền thông mới chỉ được tập trung vào trong mấy năm trở lại đây, tập trung vào đúng đối tượng – thanh niên, nhưng số lượng chưa nhiều. Hiệu quả lan tỏa của các chương trình hành động vì biến đổi khí hậu trên mạng xã hội chưa lớn.
Các Chương trình hàng động ở Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và thực thi, chưa có báo cáo đánh giá thực hiện. Chủ yếu là các nghiên cứu về các vấn đề chung của biến đổi khí hậu và các kịch bản biến đổi khí hậu trên phạm vi lãnh thổ bao gồm các chương trình quốc gia và hợp tác với các tổ chức trên thế giới. Nghiên cứu về nhận thức, thái độ, hành vi, nhu cầu thông tin và việc lựa chọn lối sống chỉ khuôn hẹp trong nhóm đối tượng ưu tiên, chủ thể của tương lai. Chương trình tiếp theo nên tập trung vào các hành động cụ thể, hướng đến mục tiêu thay đổi của các bên liên quan.
Tài liệu tham khảo
1.     Bảo Minh, 2014, 61 tỉnh đã hoàn thành Kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu, http://www.dmhcc.gov.vn/tin-tuc/2288/61-tinh-hoan-thanh-Ke-hoach-hanh-dong--ung-pho-voi-bien-doi-khi-hau.html
2.     Bộ giáo dục và đào tạo, 2014, Quyết định 329/QĐ-BGDĐT  phê quyệt đề án “Thông tin, tuyên truyền về ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai trong trường học giai đoạn 2013-2020” http://www.moet.gov.vn/?page=6.4&view=5563&opt=brpage
3.     IPCC, (2012), Managing the risks of extreme events and disasters to advance climate change adaptation, https://www.ipcc.ch/pdf/special-reports/srex/SREX_FD_SPM_final.pdf
4.     Lê Tuấn Anh, 2009, Tổng quan về nghiên cứu biến đổi khí hậu và các hoạt động thích ứng ở miền Nam Việt Nam, Hội thảo “Cùng nỗ lực để thích ứng biến đổi khí hậu”, Thừa Thiên Huế, 11-13/05/2009. 10 trang.
5.     Thủ tướng Chính phủ , 2011, Quyết định 2139/QĐ-TTg năm 2011 phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khi hậu.
6.     Thủ tướng Chính phủ, 2005,  Chỉ thị 35/2005/CT-TTg thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu.
7.     Thủ tướng chính phủ, 2011, Quyết định 2139/QĐ-TTg năm 2011 phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khi hậu.
8.     Trịnh Thị Tuyết Dung, 2015, Mối quan hệ giữa lối sống và biến đổi khí hậu, Tạp chí phát triển bền vững Vùng, số 5(4), tr. 68-78.
 ..........................................................................................
*: Bài tham luận viết gửi cho ND Môi trường và biến đổi khí hậu của Hội thảo “Việt Nam sau 30 năm đổi mới dưới góc nhìn của tuổi trẻ khối cơ quan Trung ương”. Bài này sau đó không được đăng trong kỷ yếu hội thảo nên được xuất bản đầu tiên trên blog cá nhân của tác giả. 






[1] http://www.statista.com/statistics/205966/world-carbon-dioxide-emissions-by-region/
[2] Xem thêm trong lý thuyết hành vi kế hoạch của Ajzen, 1991,
[3] Xem thêm trong IPCC factsheets-What is the IPCC https://www.ipcc.ch/news_and_events/docs/factsheets/FS_what_ipcc.pdf
[4] Xem thêm trong  http://www.wmo.int/pages/prog/wcp/
[5] 7 .a Kyoto Protocol to the United Nations Framework Convention on Climate Change". UN Treaty Database. Retrieved 27 November 2014.
[10] Tính lượt theo dõi đến thời điểm ngày 29/07/2016
[11] Xem thêm trong https://www.facebook.com/Connect4Climate/?fref=ts
[12] Mức theo dõi trang này chỉ ở mức thấp nhất trong 5 nhóm các trang được xếp hạng trên các trang của facebook. Xem thêm trên http://www.adweek.com/socialtimes/infographic-quintly-average-like-totals-pages-february-2015/617303
[13] Có 27,9% người dùng facebook trong độ tuổi từ 25-34 trong tổng số 1,7 tỷ ngườ dùng facebook. Xem thêm trong https://zephoria.com/top-15-valuable-facebook-statistics/
[14] Xem thêm trên https://twitter.com/connect4climate
[15] Xem thêm trên https://www.instagram.com/connect4climate/
[16] Xem thêm trên https://plus.google.com/u/0/105576094263365204611/videos
[17] Xem thêm trên https://www.youtube.com/user/Connect4Climate

29 thg 11, 2013

THÁCH THỨC ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP



THÁCH THỨC ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
Trịnh Thị Tuyết Dung[1]



Tóm tắt
Hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu, nó lôi cuốn các quốc gia trên thế giới vào quá trình này ngày càng mạnh mẽ mà hội nhập kinh tế là vấn đề mấu chốt. Tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế, Việt Nam đạt được những thành tựu nhất định trong tăng trưởng kinh tế và ngoại thương xong còn quá nhiều vấn đề trong ngành kinh tế nói chung cũng như trong ngành nông nghiệp nói riêng, nhất là đối với đích phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn.

Ở Việt Nam sau hơn 20 năm tỷ lệ dân nông thôn giảm được 10% đến năm 2010 vẫn còn 69,8% dân số. Lao động ở nông thôn chiếm tỷ lệ lớn trong lực lượng lao động, năm 2010 là 72,0%. Trong cơ cấu lao động phân theo ngành kinh kế có đến 48,7% là lao động trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp.Trong cơ cấu GDP, ngành nông nghiệp chiếm 20,8%[2]. Đối với Việt Nam phát triển nông nghiệp nông thôn là vấn đề quan trọng đặc biệt là vấn đề phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn.

Nông nghiệp nông thôn đang phải chịu sức ép lớn từ xã hội. Trước hết đó là giảm diện tích và chất lượng đất nông nghiệp; giảm lực lượng lao động (già hóa lao động nông nghiệp); gia tăng áp lực dân số; cạnh tranh từ nông nghiệp của các quốc gia khác. Trong khi đó, vì mục tiêu phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn cần sản xuất nông nghiệp ít gây hại cho môi trường, bảm bảo năng suất chất lượng. Vấn đề đặt ra đối với phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn: Yêu cầu tính chuyên môn hóa trong sản xuất. và làm thế nào để chuyển từ kiểu sản xuất manh mún sang kiểu sản xuất hàng hóa; Quy trình sản xuất thân thiện với môi trường nhưng vẫn đảm bảo năng suất chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

Giải pháp và khuyến nghị cho vấn đề trước hết về cấp độ quản lý vĩ mô tạo liên kết chặt chẽ giữa các nhà trong quá trình sản xuất bao gồm nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà nông. Ngoài ra cũng cần phải có chế tài kiểm soát xã hội, dư luận xã hội đủ mạnh thay đổi lối sản xuất nông nghiệp ở nông thôn hiện nay.

I.                   Đặt vấn đề
Trong thời đại hiện nay khi mà công nghệ thông tin, quân sự phát triển, chủ nghĩa khủng bố quốc tế đang tung hoành mạnh mẽ đe dọa lớn đến ổn định kinh tế xã hội, các vấn đề môi trường đặt vấn đề hợp tác chung trên toàn cầu. Vì vậy, hội nhập quốc tế là một tất yếu khách quan của quá trình phát triển, mà quan trọng nhất là hội nhập về kinh tế. Mọi “đường đi nước bước” của mỗi quốc gia suy cho cùng cũng chứa đựng đằng sau đó một mục tiêu nhất định về mặt kinh tế. Vì vậy, bất kể quốc gia nào nếu không muốn chạy sau thế giới và bị loạt trừ khỏi nền kinh tế toàn cầu sân chơi chung đều tự nguyện tham gia. Năm 1995, Việt Nam gia nhập ASEAN và năm 2007 chính thức trở thành thành viên của WTO là hai dấu mốc hội nhập quan trọng. Sau thời gian hội nhập và tiến trình mở cửa, Việt Nam đạt được một số thành tựu nhất định tuy nhiên cái gọi là tham gia thực sự vào sân chơi của thế giới còn nhiều vấn đề phải bàn. Tham gia hội nhập trong tất cả các lĩnh vực nhưng riêng với kinh tế, nông nghiệp là lĩnh vực bị ảnh hưởng nhiều nhất từ việc mở cửa thị trường.
Việt Nam thuộc Đông Nam Á một trong các trung tâm phát sinh cây trồng  trên thế giới, có nền nông nghiệp lúa nước lâu đời hiện vẫn là một nước nông nghiệp đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Trong cơ cấu lao động, lao động nông nghiệp vẫn chiếm một tỉ trọng lớn năm 2010 là 48,7%, lao động nông thôn vẫn chiếm 72% lực lượng lao động cả nước. Nông nghiệp là ngành sản xuất xuất hiện sớm và giữ vai trò quan trọng trong cung cấp lương thực thực phẩm cho con người; giải quyết vấn đề lao động việc làm; có mối quan hệ 2 chiều trong cung cấp đầu vào và tiêu thụ đầu ra với các ngành kinh tế khác nhất là công nghiệp. Ngành nông nghiệp còn giữ vị trí hết sức quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Tham gia trực tiếp vào giữ gìn hệ sinh thái và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
Tất cả vấn đề của ngành nông nghiệp khiến phát triển nông nghiệp bền vững mà trọng tâm là ở khu vực nông thôn trở nên rất quan trọng trong quá trình hội nhập. Một mặt để khắc phục những yếu kém của nền sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ chạy theo lợi nhuận, không đảm bảo chất lượng; mặt khác khai thác tối đa lợi thế so sánh có sẵn, sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong phát triển để nông sản Việt Nam đứng vững trong thị trường nông nghiệp toàn cầu; đảm bảo được vai trò trong môi trường tự nhiên và các vấn đề xã hội khác nhất là lao động nông nghiệp nông thôn. Bài viết thông qua thực trạng và vai trò của nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong thời kì hội nhập đưa ra những thách thức trước yêu cầu phát triển bền vững. Từ đó, đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam.

II. Một số khái niệm
1.      Nông nghiệp, nông thôn, nông dân
Nông nghiệp là một khái niệm được sử dụng rộng rãi hàm ý diễn tả một loại hình tổ chức sản xuất, theo nghĩa hẹp nó bao gồm trồng trọt và chăn nuôi, theo nghĩa rộng nó bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Nó bao gồm các hoạt động sản xuất mà đối tượng lao động là cây trồng và vật nuôi trong hệ sinh thái, tư liệu sản xuất là đất đai. Con người tác động và tạo ra những sản phẩm có ích. Chính vì thế mà nông nghiệp là hoạt động sản xuất mang tính thời vụ và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Nông nghiệp là hoạt động kinh tế phổ biến ở khu vực nông thôn.

Nông thôn khái niệm diễn tả về loại hình cư trú, có những đặc điểm khác biệt để phân biệt với loại hình cư trú đô thị. Nông thôn có những điểm đặc trưng mang tính khác biệt. i, về kinh tế, hoạt động sản xuất nông nghiệp là hoạt động chính. ii, về quần cư, các điểm dân cư nhỏ lẻ mang tính phân tán theo không gian, điều này có liên quan tới hoạt động sản xuất. iii, về xã hội, nông thôn có những đặc trưng của xã hội nông thôn thể hiện ở: lối sống, tính cố kết cộng đồng, văn hóa ứng xử mang nhiều tính luật tục… “Nông thôn không hẳn là một khu vực có ranh giới trùng với địa giới hành chính” (Ngoạn, 2008) phân chia hành chính chỉ mang tính ước lệ khi soi xét đến khái niệm đô thị và nông thôn. Bởi thực tế luôn tồn tại những vùng đô thị hóa và vùng ven đô được xem là nơi chuyển tiếp giữa loại hình đô thị và nông thôn.

Nông nghiệp không chỉ là hoạt động kinh tế ở nông thôn mà xuất hiện cả ở khu vực đô thị nhưng tất nhiên phân bố hoạt động nông nghiệp tập trung ở khu vực nông thôn. Hầu hết hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra ở khu vực nông thôn chính vì thế mà giá trị sản xuất, GPD ngành nông nghiệp, đóng góp của khu vực nông thôn là quan trọng nhất. Như vậy, nông nghiệp nông thôn chỉ quan tâm đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của khu vực chủ đạo - nông thôn – và nhấn mạnh đến vị trí của nông thôn trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Trong mối quan hệ này không thể không nhắc đến vai trò của nông dân trong hoạt động sản xuất mang tính đặc trưng.

2.      Phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn
Khái niệm phát triển bền vững bắt đầu được tiếp cận từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX. Nó được xác định là quá trình phát triển hài hòa của phát triển bền vững kinh tế, phát triển bền vững xã hội và bảo vệ môi trường (Hội nghị Thượng đỉnh Thế Giới, Nam Phi 2002). Yêu cầu đáp ứng được “nhu cầu” của con người trong giới hạn cho phép và đảm bảo được tính công bằng về cả mặt thời gian (giữa các thế hệ) và không gian (giữa các vùng). Nhu cầu hay sự thỏa mãn của con người cần phải được đáp ứng trên cả ba phương diện phát triển kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội và môi trường trong sạch. Việc giải quyết điểm chung thỏa mãn cả ba khía cạnh của phát triển bền vững không phải là vấn đề đơn giản. Cuộc đấu tranh không nhượng bộ của các khía cạnh này làm cho trong mỗi giai đoạn nhất định ưu tiên một khía cạnh nào đó và tất yếu phải “lấy đà” từ các khía cạnh còn lại.  Như vậy, phát triển bền vững nông nghiệp đặt ra yêu cầu của một nền sản xuất đảm bảo năng suất, chất lượng và thân thiện với môi trường. Sử dụng đất đai với vai trò là tư liệu sản xuất trong nông nghiệp một cách hiệu quả, đảm bảo cho việc tái sử dụng đất cho các thế hệ tương lai. Tác động vào cây trồng vật nuôi vì năng suất chất lượng nhưng vẫn đảm bảo được đa dạng nguồn gen cho bảo tồn đa dạng sinh học.

III. Vai trò của nông nghiệp nông thôn với Việt Nam

1.      Về kinh tế

Nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu GDP của cả nước, cho đến nay con số này luôn giữ ở mức trên 20%. Trong khoảng 10 năm gần đây từ 2000 đến 2010 tỷ trọng ngành giảm chậm (3,9%) từ 24,5% xuống còn 20,6%. Về quy mô, GDP nông nghiệp tăng lên 3,7 lần trong cùng khoảng thời gian này trong khi đó công nghiệp tăng 4,7 lần về quy mô.
Sản phẩm nông nghiệp là sản phẩm xuất khẩu chính thu ngoại tệ. Nếu trong tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu, mặt hàng thô là chủ yếu chiếm 34,9% cơ cấu hàng xuất khẩu (2010) thì sản phẩm lương thực thực phẩm và hàng sống là nhóm hàng xuất khẩu chính năm chiếm 53,3% tổng giá trị hàng thô (2010). Có 26% giá trị xuất khẩu là các mặt hàng nông nghiệp trong đó xuất khẩu thủy sản, lâm sản là nhóm chiếm ưu thế nhất, nhóm này lần lượt chiếm 26,8% và 18,4% trong các mặt hàng nông nghiệp. Rõ ràng tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp đã qua chế biến không nhiều, chủ yếu vẫn là nông sản sơ chế, hàng thô. Thực tế, có đến 21,6% mặt hàng này thuộc nhóm nông lâm thủy sản[3] chưa qua tinh, hoặc mới quan sơ chế. Trong khi đó, nông sản đã qua công nghiệp chế biến, tức được tăng về mặt giá trị hàng hóa lại chiếm tỷ trọng khá thấp. Đây là hạn chế nổi bật trong phát triển ngành nông nghiệp toàn diện, nó cũng biểu hiện tính liên kết yếu trong quá trình sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam giữa nông dân và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sau thu hoạch và công nghiệp chế biến thực phẩm. Vấn đề đặt ra đó là phát triển dịch vụ nông nghiệp nhằm sử dụng hiệu quả lao động nông nghiệp, gia tăng giá trị hàng hóa nông nghiệp.

2.      Về xã hội

Nông nghiệp giải quyết vấn đề việc làm cho một bộ phận lớn những người trong độ tuổi lao động. Năm 2010, trong tổng số 49,05 triệu lao động đang làm việc có đến 49,5% là lao động trong nông lâm nghiệp và thủy sản. So với năm 2000, con số này là 65,1% thì tỷ trọng lao động giảm 3,2 triệu tương ứng với 15,6% số lao động đang làm việc. Mức chuyển dịch lao động như trên đang còn chậm so với yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa, do hạn chế về trình độ lao động, mức độ phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ còn chậm. Về cơ cấu lao động thành thị nông thôn trong số lao động đang làm việc, có 70,68% là lao động nông thôn, trong đó chủ yếu là lao động nông lâm thủy sản. Hoạt động sản xuất nông nghiệp ở nông thôn giải quyết việc làm cho 24,3 triệu tương đương khoảng 68,5% lao động.
Dưới một góc độ khác, trong mối liên kết kinh tế và xã hội, đảm bảo tổ chức các hoạt động sản xuất ở khu vực nông thôn là điều kiện để lưu giữ lối sống nông thôn với những đặc trưng về tính cố kết cộng đồng và làng xã.
3.3.        Môi trường và hệ sinh thái
Hoạt động nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, đất đai nhưng ngược lại những hoạt động sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng không nhỏ đến tài nguyên và cảnh quan. Phát triển nông nghiệp cụ thể là trồng trọt, chăn nuôi giúp sử dụng hiệu quả diện tích bề mặt, đem lại lợi ích về kinh tế, và môi trường. Hiện diện tích đất chưa sử dụng của Việt Nam đang còn tới 10% tổng diện tích, trong đó đất đồi núi và đồng bằng chưa sử dụng là 2,9 triệu ha. Diện tích đất đồi núi chưa được sử dụng chiếm 48,9% tổng diện tích đất chưa sử dụng của cả nước. Ở các tỉnh vùng trung du, miền núi tỷ trọng đất thoái hóa và chưa sử dụng chiếm trường chiếm trên 50% diện tích của vùng. Cải tạo và sử dụng diện tích đất này trong sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề môi trường.

Hầu hết diện tích đất lâm nghiệp đều thuộc khu vực nông thôn, phát triển lâm nghiệp gắn với nghề rừng vừa khai thác hiệu quả lâm sản, tạo thêm việc làm cho lao động nông nghiệp cũng như đóng góp vào khía cạnh môi trường trong phát triển bền vững. Đảm bảo chất lượng, diện tích rừng nhất là rừng đầu nguồn có ý nghĩa quan trọng trong đảm bảo đa dạng sinh hoạt, điều hòa nguồn nước và khí hậu, nó có mối quan hệ khăng khít với đồng bằng trù mật nới hạ lưu, nới các hoạt động sản xuất nông nghiệp hết sức quan trọng. Như vậy, lâm nghiệp giữ vị trí hết sức quan trọng trong phát triển bền vững nông nghiệp nghiệp nông ở Việt Nam. Vấn đề cấp thiết đặt ra là chuyển đổi đưa vào sử dụng diện tích đất chưa sử dụng trong nông nghiệp.

IV. Thực trạng kinh tế nông thôn ở Việt Nam
1.      Quy mô lớn, tăng trưởng đều
Nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế, tốc gia gia tăng chậm. Giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2000 – 2010 tăng 167,8% từ 112,1 tỷ năm 2000 lên 170,2 tỷ năm 2010, tốc độ tăng trưởng đều giữa các năm. Đến năm 2010 tổng giá trị sản xuất đạt 234,6 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng GDP của ngành nông nghiệp tăng 142,2%, năm 2010 đạt 90,6 tỷ đồng chiếm 20,6% GDP cả nước. Nông nghiệp tăng trưởng liên tục, nhưng vẫn còn chậm, giai đoạn trước 2007 tăng trưởng giữa các năm khá đều ở mức 3 – 4%/năm thấp hơn nhiều so với tăng trưởng chung của nền kinh tế cũng như so với công nghiệp và dịch vụ. Năm 2008, do ảnh hưởng của thiên tai tăng trưởng GDP nông nghiệp tăng giảm chỉ còn ở mức 1 – 2%/năm. Trong đó tăng trưởng của ngành thủy sản cao nhất, trung bình ở mức 110%/năm có nhiều biến động, tuy nhiên ngành chỉ chiếm khoảng 15% tỷ trọng. Tăng trưởng của lâm nghiệp chỉ ở mức 1%/năm. Từ năm 2008 tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp và thủy sản giảm mạnh làm cho tăng trưởng của toàn ngành nông nghiệp giảm so với giai đoạn trước đó.

2.      Cơ cấu ngành lệch

Cơ cấu ngành nông nghiệp lệch, thể hiện nhiều yếu kém, chưa sử dụng hiệu quả tiềm năng có sẵn của ngành. Trong cơ cấu nông nghiệp theo nghĩa rộng, nông nghiệp là ngành sản xuất chính năm 2010 chiếm 75,9% giá trị sản xuất toàn ngành, chuyển dịch cơ cấu chậm theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng thủy sản. Tuy nhiên, từ sau 2008 xu hướng chuyển dịch chậm lại do sự chững lại đột ngột của ngành thủy sản.

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp theo nghĩa hẹp  chưa cân xứng giữa trồng trọt và chăn nuôi, trồng trọt chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nông nghiệp dao động trên 70%. Chuyển dịch cơ cấu sang chăn nuôi còn rất chậm, trong 10 năm 2000 đến 2010 tỷ trọng trồng trọt chỉ giảm được gần 5%. Chăn nuôi chiếm 25,1% năm 2010, còn lại tỷ trọng dịch vụ nông nghiệp rất khiêm tốn chiếm 1,5% giá trị sản xuất nông nghiệp.
Đối với ngành lâm nghiệp cũng gặp tình trạng cơ cấu kinh tế chênh lệch mạnh tương tự như nông nghiệp. Điều này, biểu hiện những yếu kém của sản xuất lâm nghiệp, là mối lo trong phát triển nghề rừng. Trong cơ cấu giá trị sản xuất thì 77% là của ngành khai thác gỗ và lâm sản. Giá trị sản xuất ngành trồng và chăm sóc rừng có xu hướng giảm tỷ trọng đến năm 2010 chỉ còn 12,4% tổng giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp. Ngành thu nhặt sản phẩm rừng và các lâm sản khác, dịch vụ lâm nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ chỉ ở mức 4 – 5%. Cơ cấu ngành lâm nghiệp thể hiện rõ tính không bền vững trong phát triển ngành lâm nghiệp nói riêng cũng như ngành nông nghiệp nói chung. Trong thời gian tới phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành lâm nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành trồng và chăm sóc rừng giảm tỷ trọng ngành khai thác gỗ và lâm sản. Đối với lâm nghiệp việc thực hiện dự án REDD và PRES trong lâm nghiệp là một trong những điều kiện để tăng giá trị sản xuất của ngành trồng và chăm sóc rừng. Tuy nhiên, dự án bước đầu mới chỉ được thực hiện thí điểm tại 5 tỉnh trên cả nước. Để thực sự phát huy và phát triển được lĩnh vực này thì cần sự phối hợp giữa các cấp chính quyền để có thể thực hiện cả dự án ngay cả khi nguồn hỗ trợ thí điểm không còn. Việc thúc đẩy phát triển REDD mang lại nhiều ý nghĩa về mặt môi trường, góp phần phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn cũng như góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững.

V. Một số vấn đề đặt ra trong quá trình hội nhập
1. Xuất phát từ bản thân nền nông nghiệp
Phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn trong quá trình hội nhập đang gặp phải nhiều vấn đề xuất phát từ chính bản thân nền nông nghiệp. Thể hiện ở suy giảm đất nông nghiệp; lao động trong nông nghiệp; chuyên môn hóa thấp và liên kết yếu trong sản xuất nông nghiệp; quy trình sản xuất không đảm bảo về mặt chất lượng.

Thứ nhất: Diện tích đất nông nghiệp suy giảm cả ở lượng (bình quân đất nông nghiệp) và chất (chất lượng đất nông nghiệp). Bình quân đất nông nghiệp ở Việt Nam thấp và ngày càng có xu hướng đi xuống. Theo thống kê tổng diện tích đất nông nghiệp năm 2011 là 26.226,4  nghìn ha, chiếm 28,4% diện tích đất của cả nước. Tuy nhiên, bình quân diện tích đất canh tác chỉ là 0,11ha/người , thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình của thế giới, xếp ở vị trí 167 (năm 2007) về bình quân diện tích đất nông nghiệp trên người. Tại các đồng bằng lớn, trung bình diện tích đất canh tác trên đầu người còn thấp hơn nhiều. Trong khi đó quỹ đất nông nghiệp ngày càng có xu hướng giảm do quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất mà chủ yếu là sang đất chuyên dùng. Phần lớn diện tích đất bị thu hồi chuyển sang đất chuyên dùng đều là đất sản xuất nông nghiệp, trong đó tỷ lệ lớn là các vùng đất phù sa canh tác lúa và hoa màu. Theo Hội Khoa học đất Việt Nam (2009) chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong thời gian 2003 – 2008, tính trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất nông nghiệp có 1,5 lao động rơi vào tình trạng không có việc làm, và mỗi ha nông nghiệp bị thu hồi sẽ lấy đi cơ hội làm việc của 13 lao động ở nông thôn (Hội khoa học đất Việt Nam, 2003 – Bộ tài nguyên môi trường, 2010). Ở một số tỉnh đồng bằng cũng thuộc vùng kinh tế trọng điểm nơi tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh mẽ, diện tích mất đất nông nghiệp, đất lúa suy giảm nhanh chóng. Ví dụ ở Hưng Yên giảm 943ha/năm, Hà Nội giảm 1067ha/năm, Tây Ninh giảm 2764ha/năm, An Giang giảm 2697ha/năm (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2010).

Về chất lượng đất nông nghiệp cũng bị suy giảm do gia tăng ô nhiễm đất. Mức độ suy giảm chất lượng đất nông nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng của nông sản. Ô nhiễm đất xuất phát chính từ việc sử dụng không hiệu quả hóa chất bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất nông nghiệp; từ rác thải công nghiệp – xây dựng, y tế; từ các bãi rác thải sinh hoạt chôn lấp. Rác thải trong quá trình sản xuất bao gồm cả nông nghiệp, công nghiệp và từ hoạt động dân sinh và dịch vụ khác nhất là y tế làm thay đổi thành phần, tính chất và cấu tượng của đất. Ô nhiễm các loại hóa chất, vi sinh ảnh hưởng đến quy trình sản xuất nông nghiệp sạch. Ở mức độ nặng hơn, rác thải xây dựng làm thay đổi thành đất, làm giảm khả năng canh tác trên đất. 

   Thứ hai:Đối với lao động nông nghiệp vấn đề đặt ra đó là chất lượng lao động nông nghiệp, già hóa lao động nông nghiệp nông thôn, và nâng cao trình độ lao động nông nghiệp. Chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp sang các ngành khác là một xu thế tất yếu trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Tuy nhiên, đi kèm với nó là già hóa độ tuổi trung vị của lao động nông nghiệp, điều này là một khó khăn trong việc áp dụng những tiến bộ khoa học cũng như nâng cao trình độ người lao động trong sản xuất. Trong khi đó thực trạng lao động hiện nay cho thấy, thừa lao động giản đơn, thiếu lao động có kỹ thuật, có trình độ. Hầu hết lao động nông nghiệp trong các hộ gia đình là lao động đơn giản, lao động chưa qua đào tạo, chỉ một số cán bộ nông nghiệp kỹ thuật là có trình đô tuy nhiên số này rất ít. Như vậy, vấn đề đặt ra là nâng cao trình độ lao động nông nghiệp thông qua chương trình khuyến nông, hoạt động của hợp tác xã.

Thứ ba: Tính chuyên môn hóa sản suất thấp, vẫn còn phổ biến tình trạng sản xuất nhỏ lẻ manh mún theo lối tiểu nông. Thể hiện trước hết ở bình quân diện tích đất nông nghiệp thấp (0,11ha/người) cao nhất ở vùng Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên thì cũng chỉ đạt 1,3 – 1,4 ha/người thấp hơn nhiều so với trung bình diện tích đất nông nghiệp trên thế giới. Ngay cả ở đồng bằng sông Cửu Long nơi diện tích thửa ruộng lớn thì diện tích bình quân đất nông nghiệp trên đầu người chỉ đạt mức 0,6ha/người[4]. Diện tích nhỏ hẹp gây khó khăn trong việc cơ giới hóa hoạt động sản xuất nông nghiệp. Tính manh mún còn thể hiện trong hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp, phổ biến là các mô hình nhỏ. Các hình thức tổ chức sản xuất theo quy mô lớn như hợp trang trại nông nghiệp là không nhiều, hình thức chủ yếu vẫn là kinh tế hộ gia đình. Hình thức hợp tác xã với vai trò cung cấp dịch vụ cho hỗ trợ phần lớn cho các hộ nông nghiệp hoạt động không hiệu quả, phần nhiều trên số đó chỉ có danh nghĩa, thiếu nhân lực có trình độ.

Thứ tư: Liên kết yếu trong nhiều mặt. Thể hiện ở liên kết giữa nông nghiệp, dịch vụ, công nghiệp chế biến; liên kết giữa nghiên cứu của nhà khoa học với quá trính sản xuất của người dân và khâu tiêu thụ, chế biến nông sản của doanh nghiệp. Liên kết yếu cũng là một trong những biếu hiện của tính chuyên môn hóa, hợp tác hóa trong quá trình sản xuất. Điều này đặt ra vấn đề tạo ra những liên kết vững chắc giữa các nhóm, gắn với lợi ích của các nhóm. (Hình 1)





 













Thứ năm: Quy trình sản xuất lạc hậu, không được kiểm định chặt chẽ, không đảm bảo về chất lượng nông sản. Sản xuất nông sản ở nhiều vùng vẫn là kiểu sản xuất theo thói quen, theo kinh nghiệm, cha truyền con nối. Ngay từ khâu cung cấp giống cây trồng vật nuôi đã không được kiểm định chặt chẽ, chủ yếu theo lối tự phát. Trong quá trình sản xuất, việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật không rõ nguồn gốc, không theo hướng dẫn rất phổ biến. Nghiêm trọng hơn, sản xuất nông nghiệp hiện nay chủ yếu chạy theo số lượng, sản lượng mà bỏ qua tiêu chuẩn quan trọng về mặt chất lượng. Mâu thuẫn hoàn toàn với vai trò của nông nghiệp trong việc đảm bảo dinh dưỡng cho con người. Dịch vụ sau thu hoạch và công nghiệp sơ chế, chế biến sau thu hoạch không được kiểm định chặt chẽ, gia tăng các cơ sở vi phạm tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Sản suất thiếu quy trình chặt chẽ, thiếu tính chuyên môn hóa ngay từ khâu đầu là nguyên nhân khiến giá trị nông sản xuất khẩu của Việt Nam thấp, nhiều chuyến hàng bị trả lại do hàng rào phi thuế về tiêu chuẩn chất lượng nhằm bảo hộ nông sản trong nước của một số thị trường cao như Nhật, EU. Thay đổi lối sản xuất nông nghiệp này là việc ngay trước mắt nhưng không phải có thể giải quyết ngay trước mắt. Nguyên nhân chính là chế tài kiểm soát chưa thật hiệu quả, trong khi đó dư luận xã hội chưa đủ mạnh và dường như vẫn chấp thuận với lối sản xuất phân biệt sản phẩm “hàng hóa” và sản phẩm “tự túc” ngày trên một thửa đất của người nông dân.

2. Nhân tố bên ngoài
Hội nhập vào thị trường nông sản thế giới, nông sản Việt Nam một mặt có nhiều cơ hội gia nhập vào thị trường các nước phương Tây, mặt khác chịu sự cạnh tranh từ nông sản nước ngoài do việc áp dụng các chính sách bảo hộ nông sản,và lộ trình cắt giảm thuế. Sau khi kí kết lộ trình cắt giảm thuế và mở cửa đối với thị trường nông sản, tốc độ giảm thuế nhập khẩu hàng nông sản nhanh hơn so với cam kết ban đầu khi gia nhập WTO. Tuy nhiên, lại thiếu áp dụng các biện pháp phi thuế quan để bảo trợ nông sản trong nước khiến người sản xuất gặp nhiều khó khăn. Một số trường hợp thực hiện trợ cấp nông sản trong nước lại tỏ ra kém hiệu quả, người dân và doanh nghiệp sản xuất trì trệ, giá nông sản trong nước cao hơn so với giá nông sản thế giới. Trong khi đó một số nước khác, nhất là các quốc gia phát triển, có khoản hỗ trợ rất lớn cho sản xuất nông nghiệp. Chính những trợ cấp này khiến cho xuất khẩu nông sản của các quốc gia đang phát triển bị thiệt hại nhiều về mặt kinh tế, do không cạnh tranh được về giá cả. Bên cạnh đó là các công cụ phi thuế quan, nhất là hệ thống tiêu chuẩn chất lượng là hàng rào thực sự lớn đối với nông sản Việt Nam trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ.

Như vậy, thị trường nông sản nước ngoài vừa tạo sức ép lớn đến nông sản trong nước vừa tạo lực đẩy khiến nông sản Việt Nam khó có thể xâm nhập thị trường.

VI. Kết luận
Nông nghiệp Việt Nam hiện vẫn là ngành sản xuất có tính chuyên môn hóa chưa cao. Nhiều vùng nông nghiệp còn sản xuất theo lối tiểu nông, manh mún và nhỏ lẻ, hiệu quả thấp. Việc sản xuất hiện chưa đảm bảo được quy trình sản xuất và vệ sinh an toàn thực phẩm từ các khâu: chọn giống, kiểm soát giống, hóa chất bảo vệ thực vật, thu hoạch, bảo quản và sơ chế nông sản. Xuất khẩu nông sản chủ yếu là sản phẩm thô sản phẩm mới qua sơ chế giá trị xuất khẩu thấp, các sản phẩm chế biến chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu. Phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn đặt ra yêu cầu phát triển theo chiều sâu, chuyển dịch nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao hiệu suất lao động và chất lượng, giá trị nông sản xuất khẩu.

Dưới góc độ quản lý vĩ mô nền kinh tế nói chung, cần thiết tạo được mối liên kết chặt chẽ trong trong quá trình sản xuất nông nghiệp từ đầu vào cho đến đầu ra của sản phẩm với sự góp mặt của Nhà nước trong điều tiết, nhà khoa học trong nghiên cứu giống, hóa chất bảo vệ thực vật, kỹ thuật canh tác; nhà doanh nghiệp trong thực hiện các dịch vụ cung cấp giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thu mua, vận tải, chế biến nông sản; nhà nông nghiệp với vai trò chủ đạo trong quá trình sản xuất.

Việc đảm bảo quy trình sản xuất nông nghiệp sạch đảm bảo năng suất và chất lượng trước hết yêu cầu chế tài kiểm soát xã hội hiệu quả bao gồm hệ thống luật pháp và việc giám sát thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm. Tiếp nữa đó là dư luận xã hội đủ mạnh lên lối sản xuất thiếu tính nhân văn, chạy đua theo sản lượng nông phẩm của người nông dân. Phải chăng chính từ kiểu sản xuất manh mún, kém hiệu quả mà ngay trên thửa đất, cùng một loại nông sản có sự phân biệt giữa những hai loại nông sản theo hướng sản xuất hàng hóa và nông sản theo hướng tự cấp tự túc. Áp lực của dư luận xã hội đủ mạnh là hết sức cần thiết để cho người nông dân sản xuất nông nghiệp sạch, hạn chế ô nhiễm môi trường sinh thái chính từ hoạt động nông nghiệp nhằm hướng đến một nền nông nghiệp bền vững.

Challenge to develop sustainable agricultural rural during integration in Viet Nam*

Nowadays,international integration and globalzation are inevitable trend, in the knowledge economy. This process of history attracts every country on the world. Day by day it becomes wider and deeper in terms of politics, culture, education, sciences, environment. In all most economic intergration is the first crucial problem. VietNam attends this process and had some targets such as: economic growth, overseas trade. However, it exists some problems in economic industry is general and agriculture development is particular, special rural agricultural development goals.

             After 20 renovation years in Viet Nam, the percent age of people in rural areas is 10 lower, in 2010 it is 69.9 percent. Labourforce in rural areas account is a large number in labourforce. It is 72 percent in 2010. On labour structure, 48.7 percent is farmer. However, on GDP structure, agriculture is 20.8[1]percent. Rural agricultural development is important  special sustainable rural agricultural development. it ensures agricultural labour and food sercurity.

Attending into integration world economy with general playground of institution, applying  agricultural integration of route, Viet Nam truck rather difficult. Objectively, foreign` product put pressure under domestic agricultural product; subjectivity, agricultural product process has not gained international standard of quality. Competition ability of agricultural have not been high. Rural agricultural is under big pressure in sociability. The first, square and quality of soil is lower, decreasing labour in agricultural sector (agricultural rural labour becomes older), population pressure is increasing; competition with other countries. Mean while, product must be less harmful to environment, ensuring quality productivity harvest for sustainable rural agricultural development goals. So it has some problems in order to develop sustainable consist of production specialization, reforming small product model to goods product model, process is friendly with environment, ensuring quality agricultural goods.

            Solution and recommendation for this field, macroscopic management level creates linkage among the businesses, the scicence, the farmer in the product process. Besides, it needs social control, public opinion is healthy enough to reform agriculture product in rural areas now.
[1] See more inCensce http://www.gos.gov.vn
.................................................
*: abstract for ICVNS 2012


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.       Nguyễn Sinh Cúc, 2003, Nông nghiệp nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nxb Thống kê, Hà Nội.
2.       Bùi Quang Dũng, 2007, Xã hội học nông thôn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
3.       Marsh S.P, T.G. Mauaulay và Phạm Văn Hùng (biên tập), 2007, Phát triển nông nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Ôx-trây-lia, Ôx-trây-lia . http://aciar.gov.au/system/files/node/768/MN126_VN.pdf
4.       Trần Ngọc Ngoạn, 2008, Phát triển nông thôn bền vững những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
5.       Vũ Văn Liệt, Giáo trình quỹ gen và bảo tồn quỹ gen,  Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp Hà Nội http://www.scribd.com/doc/51161547/14/H%E1%BB%8Dc-thuy%E1%BA%BFt-Trung-tam-%C4%91a-d%E1%BA%A1ng-di-truy%E1%BB%81n-Trung-tam-phat-sinh-cay-tr%E1%BB%93ng
6.       Nguyễn Danh Sơn, 2010, Nông nghiệp nông thôn nông dân Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại, Nxb Khoa học xã hội Việt Nam.
7.       Nguyễn Vĩnh Thanh, Lê Sỹ Thọ, 2010, Nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO thời cơ và thách thức, Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội.
8.       Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), 2005, Địa lí kinh tế xã hội đại cương, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
10.    VCCI, Cam kết WTO đối với nhóm lương thực – rau qủa, http://chongbanphagia.vn/files/Cam%20ket%20WTO%20doi%20voi%20nhom%20Luong%20thuc%20-%20Rau%20qua.pdf
11.    VCCI, Cam kết chung về mở cửa thị trường nông sản, http://chongbanphagia.vn/files/Cam%20ket%20chung%20ve%20mo%20cua%20thi%20truong%20nong%20san.pdf
12.    VCCI, Trợ cấp nông nghiệp các biện pháp bảo hộ nông nghiệp phi thuế quan, http://chongbanphagia.vn/files/Cac%20bien%20phap%20bao%20ho%20nong%20nghiep%20phi%20thue_0.pdf
13.    VCCI, Vụ kiện thương mại năm 2009, http://chongbanphagia.vn/files/BanTin%20T1-2009.pdf
14.    VCCI, Trợ cấp và thuế chống trợ cấp, http://chongbanphagia.vn/files/tro%20cap%20va%20thue%20chong%20tro%20cap.pdf





[1] Ths.  (IRSD. VASS)
[2] Các số liệu được lấy từ kết quả sơ bộ năm 2010. Tổng cục thống kê http://www.gso.gov.vn

[3] Phân loại theo cách này bao gồm: nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản; hàng công nghiệp nhệ và tiểu thủ công nghiệp; nhóm hàng nông lâm thủy sản; vàng phi tiền tệ. Như thế cách phân chia này đã loại bỏ nông sản đã qua chế biến sang nhóm hàng công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm thuộc nhóm công nghiệp nhẹ.
[4] Con số này chưa thực sự chính xác để xem xét vì thực tế không phải tất cả số dân ở vùng này đều tham gia sản xuất nông nghiệp, phần nhỏ vẫn tham gia hoạt động công nghiệp hoặc dịch vụ. Tuy nhiên, đây là con số khả quan để so sánh tính manh mún trong diện tích đất nông nghiệp.