15 thg 11, 2012

Một số vấn đề về hội nhập quốc tế



MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ*






  1. Mở đầu
Thế giới tồn tại hai hệ thống chính là các nước XHCN và các nước TBCN, từ sau khi hệ thống Liên Xô các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu xụp đổ chiến tranh lạnh kết thúc sự đối đầu giữa hai cực không còn tuy nhiên lại nảy sinh nhiều vấn đề khác liên quan. Trong thời đại hiện nay khi mà công nghệ thông tin, quân sự phát triển chủ nghĩa khủng bố quốc tế đang tung hoành mạnh mẽ đe dọa lớn đến ổn định kinh tế xã hội, các vấn đề môi trường toàn cầu đặt vấn đề hợp tác chung trên toàn cầu. vì vậy, hội nhập quốc tế là một tất yếu khách quan của quá trình phát triển, nó lôi cuốn các quốc gia cùng tham gia sân chơi trước nguy cơ bị loại trừ khỏi nền kinh tế toàn cầu. Năm 1995 Việt Nam gia nhập ASEAN và năm 2007 chính thức trở thành thành viên của WTO là hai dấu mốc hội nhập quan trọng. Sau thời gian hội nhập và tiến trình mở cửa, Việt Nam đạt được một số thành tựu nhất định tuy nhiên cái gọi là tham gia thực sự vào sân chơi của thế giới còn nhiều vấn đề phải bàn. Trong bối cảnh suy thoái kinh tế, vấn đề nợ công đang nổi lên, đặt ra thách thức cho việc tái cấu trúc nền kinh tế. Với tư thế hội nhập Việt Nam có thể ứng phó như thế nào để giữ vững ổn định trong nước. Một câu hỏi nữa cũng được đặt ra là đến khi nào Việt Nam thực sự tận dụng được cơ hội của mình và phát huy tiềm lực sẵn có để có thể thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình hiện nay.
  1. Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm toàn cầu hóa (globalization) được xuất hiện đầu tiên trong từ điển của Anh vào năm 1961 và được sử dụng rộng rãi từ những năm 90 của thế kỷ XX. Các vấn đề lý luận của nó được xem xét trong nhiều lý thuyết. Đầu tiên là thuyết Trọng thương đặt nền móng cho sự phát triển của thương mại quốc tế. Sau đó là các thuyết về chủ nghĩa tự do thương mại cả Adam Smith và David Ricardo cung cấp cơ sở cho việc phân tích, giải thích, dự đoán quá trình phát triển của thương mại toàn cầu. Thuyết của Friedrich List về Bảo hộ mậu dịch. Thuyết chức năng thể chế phát triển trong vấn đề liên quan đến chính trị. Sau chiến tranh thế giới thứ I là thuyết hiện thực, học thuyết Mác-Lênin. Các học thuyết này là nền cơ sở lý luận cho toàn cầu hóa.
Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu khách quan gắn với xu thế phát triển của nền sản xuất xã hội, kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội ngày sâu rộng. Giai đoạn hiện tại nó gắn với chủ nghĩa tư bản và tư thế nước lớn – nhất là các tập đoàn xuyên quốc gia, tập đoàn tài chính quốc tế. Có thể hiểu Toàn cầu hoá là quá trình hình thành một chỉnh thể thống nhất toàn thế giới. Đó là quá trình ảnh hưởng, tác động, xâm nhập lẫn nhau xuyên biên giới trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trước hết và chủ yếu là trên lĩnh vực kinh tế và vận hành trong một trật tự hệ thống toàn cầu. i, Toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ ngày càng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực: chính trị, văn hóa, giáo dục, môi trường, khoa học,  mà kinh tế là nội dung cơ bản đầu tiên. ii, nổi lên vai trò và tư thế của các nước lớn trong việc chi phối toàn cầu hóa thể hiện ở việc lợi dụng sức ép về kinh tế, chính trị, quân sự, thúc đẩy toàn cầu hóa nhanh chóng cũng như đưa ra các quy tắc ứng xử mang tầm quốc gia hay quốc tế hóa các ý tưởng toàn cầu hóa theo hướng có lợi cho mình. iii, xu hướng tự do hóa kinh tế song song với xu hướng bảo hộ mậu dịch, toàn cầu hóa đi với khu vực hóa. iv, chính vì thế toàn cầu hóa gia tăng bất bình đẳng giữa các quốc gia, đẩy khoảng cách giầu nghèo giữa các quốc gia ngày một xa.
Hội nhập quốc tế chủ động gắn kết vào nền kinh tế thị trường và tham gia vào sân chơi chung về thể chế. Hình thái hội nhập bao gồm hợp tác song phương giữa 2 nền kinh tế và hợp tác đa phương thông qua các hiệp định.
  1. Lịch sử của hội nhập quốc tế của Việt Nam
Ngay từ năm 1946 Hồ Chí Minh là người đầu tiên đưa ra ý tưởng về hội nhập quốc tế. Điều này chỉ thực sự đi vào hiện thực kể từ sau đổi mới. Sau 25 năm đổi mới, tiến trình hội nhập của Việt Nam trải qua nhiều bước thăng trầm. Có thể kể đến một vài mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập của Việt Nam.
-          Năm 1988 Việt Nam bắt đầu mở cửa, ngoại thương khởi sắc từ đây.
-          Năm 1995 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của ASEAN. Tham gia vào sân chơi của khu vực Đông Nam Á
-          Năm 2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO. Thực sự tham gia vào kinh tế toàn cầu.
Nếu so sánh với Trung Quốc, Việt Nam dường như kém may mắn hơn trong quá trình hội nhập. Chỉ vài năm ngay sau 2 dấu mốc hội nhập của Việt Nam là khủng hoảng kinh tế thế giới. Lần đầu tiên chỉ sau 2 năm gia nhập ASEAN, khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ Thái Lan đã lan tỏa tới nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, mạnh mẽ nhất là đối với Indonexia, Malaixia và các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Một cường quốc về kinh tế như Nhật Bản cũng bị ảnh hưởng nặng nề trong cuộc khủng hoảng này. Chỉ trong 1 năm xảy ra khủng hoảng 12/1997 đến 10/1998 đồng Bath Thái Lan bị giảm giá 108%, tiền Indonexia mất giá tới 3.5 lần, đồng Yên giảm giá 23%. (trích nguồn.). Lần thứ 2, đầu năm 2007 Việt Nam chỉ có hơn 1 năm ngắn ngủi để làm quen và thu lợi từ hội nhập. Cuối 2008 bắt đầu từ khủng hoảng tài chính của các ngân hàng Mỹ, làn sóng này đã nhanh chóng lan rộng tới các trung tâm kinh tế khác EU, Nhật Bản. Hiện tại là vấn đề nợ công ở Châu Âu, tái cấu trúc nền kinh tế…
  1. Các khía cạnh của hội nhập
4.1 Hội nhập về kinh tế
Trong nền kinh tế trí thức hiện này toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập kinh tế thế giới là một xu thế tất yếu khách quan mà bất kể quốc gia nào nếu không muốn chạy sau thế giới đều tự nguyện tham gia. Mọi “đường đi nước bước” của mỗi quốc gia suy cho cùng cũng chứa đựng đằng sau đó một mục tiêu nhất định về mặt kinh tế. Có thể nói hội nhập kinh tế quốc tế là nội dung quan trọng nhất của hội nhập quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế là việc gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu trong đó mối quan hệ giữa các quốc gia thành viên có ràng buộc theo những qui định chung của khối. Đương nhiên các quốc gia này tự nguyện mở của nền kinh tế, tham gia vào các định chế, các nguyên tắc, hiệp ước về kinh tế tài chính để thuận lợi trong tự do hóa thương mại, đầu tư cũng như các hoạt động kinh tế đối ngoại khác. Và như thế nó tạo nên một nền kinh tế toàn cầu thống nhất và hoàn chỉnh trong đó chứa đựng mối quan hệ biện chứng với nhau. Nền kinh tế mỗi quốc gia thành viên vừa có vai trò nhất định vừa chịu ảnh hưởng bởi những tác động chung có tính toàn cầu. Hội nhập kinh tế được thể hiện thông qua mối quan hệ kinh tế vượt qua biên giới quốc gia, vươn tới quy mô toàn thế giới, đạt trình độ và chất lượng mới
Về bản chất hội nhập kinh tế là việc đặt ra các mối quan hệ hợp tác để phát triển. Nó là sự đan xen, gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau giữa nền kinh tế quốc gia và thế giới thông qua quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh gay gắt. Hội nhập kinh tế để từng bước xóa bỏ các rào cản về thương mại, đầu tư giữa các quốc gia để có được thị trường chung thống nhất, tự do hóa thương mại kinh tế. Mục tiêu các nhất là có được thị trường chung thống nhất trên toàn thế giới vận hành theo cơ chế chung trên cơ sở bình đẳng giữa các quốc gia. Trong tư thế nước nhỏ Việt Nam tham gia hội nhập lại đặt vấn đề bảo vệ nền kinh tế trong nước trước cường quốc để không bị “nuốt chửng”.
4.1.1        Hội nhập kinh tế là tất yếu khách quan
Kinh tế thế giới phát triển qua nhiều giai đoạn có lúc thăng lúc trầm. Trước tiên là trao đổi hàng hàng, sau đó quan hệ chuyển sang hàng- tiền- hàng. Vai trò của vật ngang giá chung ngày càng được khẳng định trên thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho mậu dịch  tự do. Đi cùng với nó là sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất càng phát triển thì phân công lao động ngày càng cao, hợp tác hóa ngày càng sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và kinh tế. Sự phát triển cao của lực lượng sản xuất làm cho tính chất xã hội hóa của nó vượt ra khỏi phạm vi biên giới một quốc gia, nó lan tỏa ra các quốc gia, khu vực và thế giới. Ngoài ra tự do hóa thương mại đang trở thành một xu thế tất yếu được xem là một nhân tố quan trọng để thúc đẩy buôn bán, giao lưu giữa các quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nâng cao mức sống của mỗi quốc gia. Rõ ràng không có quốc gia nào có khả năng đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của mình chỉ bằng vốn nội lực mà không cần tới mối quan hệ với bên ngoài. Sự chậm trễ trong đóng cửa nền kinh tế, thực hiện bế quan tỏa cảng phải trả giá bằng chính sự tụt hậu và suy giảm sức mạnh trên mọi mặt. Nền kinh tế thị trường đang tỏ ra có nhiều ưu thế vướt trội nảy sinh yêu cầu của một nền kinh tế chung là điều dễ nhận thấy.
Nhận thức rõ xu hướng tất yếu của sự phát triển đó, các quốc gia trong chiến lược phát triển của mình đều có những điều chỉnh nhất định phù hợp với hướng vận động chung. Tuy nhiên trong quá trình phát triển cũng phải cân đối giữa cái chung và cái riêng để có thể “hòa nhập nhưng không bị hòa tan
4.1.2        Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế được thực hiện thông qua các chương trình chung của các khối nước, các tổ chức để cùng phát triển, đó có thể là các hợp tác đơn phương, song phương hay đa phương. Nội dung của hội nhập kinh tế quốc thể hiện thông qua nội dung của các liên kết và hợp tác giữa các chủ thể kinh tế. Như vậy, nội dung của nó có thể được xem xét dưới góc độ của các chủ thể  kinh tế và dưới góc độ ý nghĩa của các liên kết đó.
    1. Dưới cái nhìn về chủ thể kinh tế
Trong nền kinh tế thế giới chúng ta nhận thấy có thể chia ra các chủ thể kinh tế như sau: Mức thấp nhất là các công ty, các doanh nghiệp không được coi như những chủ thể có đầy đủ về mặt chính trị, pháp lý như quốc gia độc lập. Thứ 2 đó là nền kinh tế của các quốc gia độc lập. Thứ 3 đó là các tổ chức và liên kết kinh tế quốc tế. Và cuối cùng là các công ty xuyên quốc gia, công ty đa quốc gia, công ty siêu quốc gia, chính vì vai trò to lớn của nó trong phân công lao động quốc tế mà được coi là một chủ thể đặc biệt trong nền kinh tế thế giới.
Tùy theo mức độ các liên kết này có thể là nhỏ bé giữa các doanh nghiệp giữa các quốc gia với nhau trong các khâu nhất định của quá trình sản xuất từ đầu vào đến đầu ra của sản phẩm. Liên kết lớn hơn đó là liên kết giữa các quốc gia với nhau, nó liên quan đến chính phủ các quốc gia, quyền  quyết định cuối cùng thuộc về quốc gia đó. Lớn nhất là liên kết siêu quốc gia, điều kiện của các hiệp ước thường mang tính chất bắt buộc, đôi khi nó “xâm phạm” đến tính độc lập của quốc gia thành viên.
    1. Dưới góc độ của các liên kết kinh tế.
Theo nội dung của các liên kết có thể chia thành các lĩnh vực: Điều chỉnh chính sách; hiệp định về thuế quan và phi thuế quan; Cải cách quản lý kinh tế; liên kết thương mại. Về cơ bản các vấn đề này được biểu hiện thông qua các kí kết trong liên kết khu vực và quốc tế.
Điều chỉnh chính sách trong các liên kết này các bên tham gia chấp nhận thay đổi các chính sách của mình trong một số vấn đề nhất định với đối tác và với nước thứ 3. Đó có thể là chính sách liên quan đến quản lý vĩ mô nền kinh tế, hiệp định về gỡ bỏ hàng rào thuế quan, phi thuế quan đối với hàng hóa, đầu tư nước ngoài, lộ trình cắt giảm thuế hay thực hiện các liên kết thương mại song phương, đa phương  trong việc mở cửa thị trường tự do.
v  Tổ chức thương mại thế giới WTO
WTO là tổ chức thương mại toàn cầu ra đời trên cơ sở hiệp định thuế quan GATT với 6 chức năng chính: Quản lý hiệp định về thương mại quốc tế; là diễn đàn cho các vòng đàm phán thương mại; Giải quyết các tranh chấp thương mại; Giám sát các chính sách thương mại; Trợ giúp về kỹ thuật và đào tạo cho các quốc gia đang phát triển; Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác. Trên cơ sở của 5 nguyên tắc trong đó nhấn mạnh đến không phân biệt đối xử, cạnh tranh bình đẳng, tự do thương mại thông qua đàm phán, có đãi ngộ ưu tiên đối với các thành viên đang phát triển. Thực tế hoạt động của WTO cũng cho thấy nó chưa đảm nhận tốt vai trò của thúc đẩy tự do hóa thương mại đa phương trong khi đó số lượng thành viên gia tăng nhanh chóng (năm 2010 là 150 thành viên) khiến cho các vòng đàm phán ngày càng trở nên phức tạp. Các chương trình nghị sự quá lớn khiến các quốc gia tham gia hội nhập thương mại không đồng bộ trong nhiều lĩnh vực tức chưa thực sự tạo được sân chơi chung toàn cầu. Trong khi đó có một số quy tắc đi sâu và một số các lĩnh vực nhảy cảm hơn, điều này dẫn đến các xung đột lợi ích giữa các nước thành viên.
v  Khu vực mậu dịch tự do FTA (Free Trade Area)
Khu vực mậu dịch tự do là liên kết giữa 2 hay nhiều quốc gia nhằm tự do buôn bán một số mặt hàng nào đó, hình thành nên thị trường thống nhất giữa các nước nhưng vẫn thực hiện chính sách thuế quan độc lập với các nước ngoài khối. Đây là mức độ thấp nhất trong hội nhập kinh tế khu vực. Ở hình thức này tính thống nhất không cao, sự ràng buộc giữa các bên liên quan nhìn chung còn lỏng lẻo. Trong liên kết này thực hiện chương trình chung về vấn đề thuế xuất nhập cảng, đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện cho hàng hóa xâm nhập vào nhau. Tuy nhiên từ vào điều kiện từng quốc gia mà đưa ra các giải pháp về thuế, phi thuế phù hợp trên cơ sở nguyên tắc chung. So với tiến trình tham gia WTO cần có lộ trình rõ dàng và từ thì mở cửa trong FTA diễn ra nhanh hơn, mức thuế trong WTO bao giờ cũng cao hơn so với mức thuế của FTA. Nó thực hiện tốt hơn vai trò thúc đẩy tự do hóa thương mại, nó là phản ứng nhanh của các quốc gia trong quá trình hội nhập trước phản ứng chậm chạm của vòng Doha. Sau năm 1995 là bùng nổ của các FTA. Cho đến 2010 đã cps 380 FTA đã được ký kết, hiện còn 204 FTA còn hiệu lực, có đến 50% FTA diễn ra ngoài WTO.
Các kiên kết FTA tiêu biểu có: NAFTA (khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ) ban đầu có Hoa Kỳ và Canada, năm 1995 gia nhập thêm Mehico, xu hướng muốn mở rộng lên 34 quốc gia thuộc Mỹ Latinh; AFTA (khu vực mậu dịch tự do ASEAN) gồm 10 quốc gia thành lập năm 1993 và đang ngày càng mở rộng; CAFTA (ASEAN + Trung Quốc); CE-FTA (khu vực mậu dịch tự do Trung Âu) thành lập năm 1995 với 5 nước thành viên. Ngoài ra còn có rất nhiều các FTA được xây dựng giữa các quốc gia và khu vực khác.
v  Liên minh hải quan (Customs Union)
Là liên kết kinh tế trong đó các nước thành viên loại bỏ thuế trong thương mại nội bộ và thiết lập một thuế quan chung của các nước thành viên với các quốc gia ngoại khối. Hình thức này chặt chẽ hơn so với FTA, khác FTA về cơ bản ở quan hệ với nước thứ 3. Một số các liên minh đã được thành lập như: Liên minh hải quan Trung Phi thành lập năm 1964 gồm 6 nước thành viên (Camerun, Trung Phi, Chad, Công, Guine xích đạo, Gabon); Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) từ năm 1968 giai đoạn sau đó nó phát triển lên thành thị trường chung (những năm 1980)
v  Thị trường chung (Economic Common)
Là hình thức phát triển cao hơn của liên minh hải quan. Trong đó các quốc gia thực hiện di chuyển hàng hóa, tư bản và sức lao động giữa các nước thành viên với nhau, xây dựng cơ chế chung điều tiết thị trường của các nước thành viên. Từ đó tiến tới xây dựng chính sách kinh tế đối ngoại chung với nước thứ 3. Ví dụ thị trường chung châu Âu (ECM –Economic Common Market), thị trường chung Trung Mỹ (CACM), thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR)
v  Liên minh kinh tế (Economic Union)
Liên minh kinh tế mang đầy đủ đặc điểm của Thị trường chung nhưng thêm một số vấn đề khác bao gồm: Thiết lập bộ máy tổ chức, điều hành, quản lý kinh tế chung thay thế phần nào đó cho chính phủ nước thành viên từ đó có chính sách phát triển kinh tế đối ngoại và kinh tế nội địa vượt ra khỏi giới hạn lãnh thổ quốc gia, thực hiện phân công lao động sâu sắc. Liên minh kinh tế điển hình nhất đó là EU
v  Liên minh tiền tệ (Monetary Union)
Đây là hình thức liên kết kinh tế cao nhất tiến tới thành lập một quốc gia kinh tế chung của nhiều nước với nhau bao gồm chính sách kinh tế, đối ngoại và ngoại thương chung. Hình thành một đồng tiền chung thống nhất giữa các nước thành viên, qui định chính sách  lưu thông tiền tệ chung; Quỹ tiền tệ chung; ngân hàng chung thay thế cho ngân hàng quốc gia; Chính sách tiền tệ chung trong khối và với các tổ chức tiền tệ quốc tế. Từ đó tiến tới xây dựng hệ thống pháp luật chung điều tiết hoạt động sản xuất, hệ thống quân đội và phòng thủ chung. Liên minh EU đã thực hiện đồng tiền chung EURO từ năm 1999 tuy nhiên đi tới đó là con đường dài gian khổ, cho đến nay vẫn có một số quốc gia thành viên của EU không tham gia đồng tiền chung EU như Anh, Đan Mạch, Thụy Điển. Và thực tế liên minh xây dựng trong pháp luật chung , quân đội của  EMU cũng còn nhiều vấn đề phải bàn bạc do chênh lệch quá lớn giữa các quốc gia thành viên.
Như vậy các mức độ liên kết khác nhau của các chủ thể kinh tế giúp cho các quốc gia hội nhập nhất định vào nền kinh tế chung của khu vực và thế giới. Các liên minh thực hiện thông qua kí kết các hiệp định song phương đa phương trên lĩnh vực về thuế quan, chính sách quản lý, thương mại.
4.1.3        Tác động của hội nhập kinh tế
Hội nhập về kinh tế hình thành nên một “sân chơi” chung cho các quốc gia. Tham gia vào nền kinh tế thế giới, hội nhập được vào đó không phải là “được trải thảm đỏ” cho đi. Việc có phát triển kinh tế quốc gia được hay không phụ thuộc lớn vào bản thân vấn đề “biết mình biết ta” đưa ra được chính sách quản lý vĩ mô nền kinh tế, hoạch định chính sách phù hợp. Sự phụ thuộc của trong nền kinh tế chung luôn đặt ra những thời cơ và thách thức khác nhau giữa nhóm nước phát triển và đang phát triển.
a.      Thời cơ
i, Tạo những khả năng phát triển kinh tế
         Hội nhập tạo không gian kinh tế rộng mở,mở cửa thị trường, tự do hoá thương mại, làm quan hệ buôn bán, trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các nước tăng lên mạnh mẽ từ đó kích thích kinh tế phát triển. Thông qua mở rộng thương mại giúp các quốc gia tiết kiệm được một khoản nhất định trong chi phí quản lý, hải quan xuất nhập khẩu cũng như trong nhiều dịch vụ khác cùng với nguồn vốn đầu từ quốc tế trên các lĩnh vực sẽ là tiền đề góp phần vào tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thực tế đã chứng minh trong thời kỳ 1970-1990 các nước đang phát triển có nền kinh tế mở cửa thì tỷ lệ tăng GDP trung bình hàng năm là 4,5% một năm, ngược lại các nước có nền kinh tế đóng chỉ tăng 1%/ năm.
         Về cơ cấu kinh tế có thể phát triển theo hai hướng. Thứ nhất, cơ cấu kinh tế ngày càng đa dạng, có sự góp mặt đầy đủ của các ngành kinh tế. Thứ hai, tính chuyên môn hóa ngày càng sâu sắc, cơ cấu kinh tế sẽ ngày càng mất cân đối (như trường hợp của một số quốc gia vùng Caribe và châu Phi). Yêu cầu của phát triển bền vững lại được đặt ra. Một nền kinh tế không đồng bộ, thiếu đi ngành sản xuất quan trọng mang tính chiến lược quốc gia sẽ làm cho nước đó nhanh chóng bị dìm xuống nếu khủng hoảng kinh tế khu vực hay thế giới xảy ra.
ii, Khai thác lợi thế so sánh
Tham gia vào sân chơi thế giới rộng lớn tạo điều kiện để mở đa dạng hàng hóa và các sản phẩm dịch vụ nói chung mặt khác nó cũng đặt ra vấn đề cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế tham gia trong sản xuất hàng hóa. Phân công lao động càng sâu sắc, tính chuyên môn hóa sản xuất càng cao. Theo thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo (1772-1823) các quốc gia sẽ ưu tiên  sản suất theo lợi thế so sánh của mình để thu được lợi ích cao nhất trong giao dịch thương mại. Và như thế khi hội nhập, khi mở cửa nền kinh tế các sản phẩm trong nước sẽ đứng trước cạnh tranh lớn của các mặt hàng cả về chất lượng lẫn giá cả. Nếu như đối với các nước công nghiệp sản phẩm lợi thế là các mặt hàng công nghiệp có hàm lượng kĩ thuật cao, các mặt hàng về điện tử, các lĩnh vực về quân sự về khoa học vũ trụ trong khi đó các nước nông nghiệp sản phẩm ưu thế là các sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm của công nghiệp nhẹ. Hội nhập sẽ giúp 2 bên giải quyết vấn đề về lợi ích kinh tế. Song bên cạnh đó cũng thấy nảy sinh vấn đề liên quan đến “công bằng”
Đối với các sản phẩm hàng hóa trong nước phải phát huy tối đa lợi thế có sẵn. Việc xác định mặt hàng chiến lược trong sản xuất và hướng xuất khẩu cũng cần phải xem xét trên một số mặt: (1) Lợi thế so sánh dài hạn; (2) qui mô kinh tế đặt trong quy hoạch liên vùng (để đảm bảo giảm chi phí cố định); (3) dung lượng thị trường (để đảm bảo thị phần và tăng thị phần mà không bị các biện pháp tự vệ, điều tra chống bán phá giá); (4) mức giảm thuế và lộ trình giảm thuế theo cam kết (để đo sức ép cạnh tranh của hàng nhập khẩu). Việc xác định hàng xuất khẩu nên phải tính đến chu kỳ sống của sản phẩm. Lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm xem xét khả năng xuất khẩu tiềm tàng của sản phẩm gắn liền với 4 chu kỳ sống của sản phẩm là: (1) giai đoạn đổi mới sản phẩm; (2) giai đoạn tăng trưởng sản phẩm; (3) giai đoạn chín muồi, bão hòa; (4) giai đoạn suy giảm và triệt tiêu.
iii, Thúc đẩy sự phân công lao động trên quy mô toàn thế giới.
          Hội nhập càng sâu rộng thì tính chuyên môn hóa và phân công lao động quốc tế càng mạnh mẽ. Xu thế hội nhập hiện nay tạo ra sự liên kết, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và thống nhất nền kinh tế toàn cầu do đó tạo điều kiện thuận lợi để các nước tăng cường hợp tác lao động, phát huy tốt tiềm năng có sẵn của mình.
         Trước hết đi cùng với nó là việc mở ra thị trường xuất khẩu lao động giữa các nước. Dòng xuất khẩu lao động di chuyển theo 2 hướng khác nhau. Thứ nhất là dòng lao động trình độ thấp (lao động cơ bản) sang các nước khác. Đây là thời cơ lớn cho một nước đông dân như Việt Nam giải quyết vấn đề việc làm cũng như cơ hội nâng cao hơn nữa chất lượng lao động, tăng nguồn thu quốc gia. Thứ hai đó là dòng di cư “chất xám” từ các quốc gia với nhau. Nếu trước kia người ta nói nhiều đến dòng chảy sang các nước phát triển như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản thì nay mở thêm dòng mới sang các quốc gia đang phát triển khác để tìm kiếm cơ hội phát triển. Bên cạnh đó là đóng vai trò nổi bật trong sự phân công lao động quốc tế hiện nay là các công ty xuyên quốc gia. Hội nhập tạo điều kiện cho các công ty xuyên quốc gia có thể sử dụng lao động trên toàn thế giới mà không làm tăng làn sóng di dân từ nước này sang nước khác.
iv, Lưu chuyển các nguồn vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý phục vụ phát triển sản xuất
          Hội nhập kinh tế tạo sự di chuyển đầu tư bao gồm vốn, khoa học công nghệ… trên quy mô toàn cầu với tốc độ và quy mô ngày càng lớn, nhờ đó các quốc gia có cơ hội mở rộng sản xuất. Luồng đầu tư quốc tế có thể là giữa các quốc gia có trình độ tương đương đáng chú ý là giữa các nước phát triển với nhau (lúc này thấy rõ mục đích thao túng lẫn nhau của các tâp đoàn kinh tế lớn) hoặc giữa các nước phát triển sang các nước đang phát triển, chậm phát triển. Đầu tư quốc tế giai đoạn hiện này chủ yếu là từ quốc gia phát triển, tập đoàn kinh tế lớn sang các quốc gia chậm phát triển hơn. Điều đó còn cho thấy sự thâm nhập, đan xen và bổ sung lẫn nhau giữa nền kinh tế các quốc gia ngày càng tăng lên. Từ đó tạo điều kiện tối đa cho quá trình phổ biến khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý trên khắp thế giới.
v, Hội nhập mở rộng phạm vi hoạt động của tư bản quốc tế
          Do quá trình tự do hoá thương mại, đầu tư lưu thông  các nguồn lực sản xuất, sự thâm nhập vào nhau, phụ thuộc nhau giữa các nền kinh tế mà hoạt động của tư bản quốc tế không ngừng mở rộng. Các chính phủ, các tổ chức tư bản nhất là các tập đoàn tư bản tài chính  quốc tế  khổng lồ như IMF, WB... không ngừng mở rộng phạm vi hoạt động và các hình thức kinh doanh, từ đầu tư sản xuất, dịch vụ, hỗ trợ phát triển đến đầu tư chứng khoán ... để thu lợi nhuận tối đa.
b.      Thách thức
i, Gia tăng bất bình đẳng kinh tế
         Trong  một sân chơi chung “mạnh ai nấy thắng” chắc chắn thiệt thòi sẽ luôn thuộc về kẻ yếu. Các quốc gia tự nguyện hội nhập vào nền kinh tế thế giới tạo ra một thị trường rộng lớn cho tất cả các bên tham gia dường như đó là nơi rất “công bằng” nhưng không phải tất cả các nước có trình độ phát triển như nhau mà vì thế yếu kém về kinh tế sẽ thường bị “bắt nạn” ở chỗ này hay chỗ khác. Rõ ràng với tiềm lực to lớn về tài chính, khoa học công nghệ, quân sự… và trong khi quan hệ kinh tế còn nhiều bất bình đẳng thì lợi thế của toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế dồn hết vào các nước phát triển. Do vậy thách thức đặt ra đối với hội nhập kinh tế là vấn đề lớn của các quốc gia đang phát triển như Việt Nam  hơn là đối với các quốc gia phát triển.
ii, Thông qua tự do thương mại và mở cửa nền kinh tế sẽ làm tăng tính phụ thuộc của các quốc gia đặc biệt là giữa các nước chậm phát triển với các nước khác về vốn, khoa học công nghệ, thị trường cũng như các vấn đề khác. Bên cạnh đó tự do thương mại cũng có thể ảnh hưởng xấu đến cán cân vãng lai, gia tăng nợ nước ngoài, nguy cơ nợ xấu. Sự lệ thuộc vào kinh tế dẫn đến nguy cơ lệ thuộc vào chính trị gây nguy hại đến tính chủ quyền của các quốc gia.
iii, Cạnh tranh khốc liệt mà kẻ yếu sẽ bị đào thải
            Hội nhập là quá trình vừa hợp tác vừa cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thế kinh tế, luôn đặt ra thách thức lớn đối với quốc gia các năng lực cạnh tranh thấp bao gồm cả năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và hàng hóa đều thấp. Năng lực cạnh tranh quốc gia gồm một hệ thống chỉ số - cũng còn gọi là chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp (GCI - Global Competitiveness Index) được Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố lần đầu tiên trong Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2004 - 2005. Các chỉ số này được phân làm chín nhóm, còn được gọi là chín trụ cột thể hiện năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia. Chín trụ cột đó gồm: (1) thể chế; (2) kết cấu hạ tầng; (3) kinh tế vĩ mô; (4) y tế và giáo dục cơ bản; (5) đào tạo và giáo dục bậc cao; (6) hiệu quả thị trường; (7) mức độ sẵn sàng về công nghệ; (8) trình độ kinh doanh; (9) đổi mới và sáng tạo. Với những nền kinh tế non kém, đứng trước cuộc cạnh tranh khốc liệt sẽ dễ đến phá sản, các doanh nghiệp trong nước nếu không đứng vững được thì hoặc sẽ bị phá sản hoặc sẽ bị thao túng bởi các tập đoàn kinh tế, công ty xuyên quốc gia hoặc nếu không cũng sẽ bị “chìm” dần trong vụ kiện vô lý.
            Hội nhập còn dẫn đến khủng hoảng cơ cấu việc làm và phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng lên ở những nước đang phát triển. Việc chuyển các công nghệ lạc hậu từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển hay chậm phát triển làm cho tình trạng kinh tế các nước đó duy trì lâu dài tình trạng lạc hậu và  bị lệ thuộc vào nước ngoài. Hội nhập còn gây ra tình trạng chảy chất xám từ các nước đang phát triển, các nước thuộc thế giới thứ ba sang các nước phát triển qua dòng di cư của những trí thức, sinh viên và lao động có tay nghề cao. Tình trạng này gây trở ngại lớn đối với sự phát triển kinh tế.
vi, Sự bành trướng tập đoàn tư bản tài chính, công ty xuyên quốc gia
Trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế gắn liền với sự gia tăng “chân nhện” của các tập đoàn và các công ty xuyên quốc gia (MNC, TNC). Các công ty đa quốc gia thường có công ty mẹ đặt ở 1 quốc gia (cũng là chủ sở hữu) và các công ty con trên khắp thế giới. Các công ty này đều là các công ty tư bản có nguồn ngân sách lớn, thực hiện sản xuất, tiêu thụ trên qui mô toàn cầu với chính sách “lấy thế giới là nhà máy, lấy quốc gia làm phân xưởng” qua đó tiến hành phân công lao động quốc tế có chủ định. Giữ vai trò lớn trong đẩy mạnh thương mại quốc tế, tăng cường vốn đầu tư nước ngoài, phát triển nguồn lực tạo việc làm, thúc đẩy nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ. TNC với khoảng 60 nghìn công ty và 500 nghìn chi nhánh trên khắp thế giới chiếm khoảng 40% GDP, kiểm soát 60% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, 90 % thành quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Ở thời kì đầu các công ty này diễn ra quá trình hợp nhất theo chiều dọc hay chiều ngang nhưng cho đến nay làn sóng sát nhập hỗn hợp và xu hướng thôn tính lẫn nhau đã trở nên phổ biến trên khắp thế giới ở cả các nước phát triển và đang phát triển, trên tất cả các lĩnh vực từ đó hình thành nên hệ thống khổng lồ trên toàn thế giới.
Với tiềm lực của mình, luôn tìm cách mở rộng ở mức tối đa có thể, với kinh nghiệm lâu đời trong sản xuất kinh doanh, lão luyện trong bành chướng thế lực kinh tế, nó thực sự là đối thủ đáng gườm đối với các nền kinh tế mới mở cửa đang còn non nớt. Hội nhập gắn liền với cạnh tranh và hợp tác, hai lĩnh vực này luôn song song đi cùng với nhau. Và như vậy đối với các doanh nghiệp mang tầm quốc gia hợp tác phải khôn khéo để không lệ thuộc, cạnh tranh lành mạnh đúng hướng để không bị phá sản.
             4.2.3 Thành tựu, thách thức sau khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới
Sau khi hội nhập Việt Nam có nhiều nỗ lực trong cải cách để tham gia vào thể chế toàn cầu. Thành tực trong hội nhập kinh tế thể hiện qua một số tiêu chí bao gồm: Tăng trưởng kinh tế trên 7,8% đến năm 2011 dưới ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm sút; ngoại thương tăng nhanh chóng;  FDI tăng 7 lần so với thời kỳ 5 năm trước; độ mở nề kinh tế lớn. Bên cạnh đó chúng ta cũng hình thành được thị trường lao động, bất động sản, hàng hóa dịch vụ…
Cơ cấu hàng hóa và sản phẩm hàng hóa xuất khẩu còn đơn điệu, giá trị gia tăng thấp chủ yếu hàng xuất khẩu là sản phẩm của công nghiệp khai thác hoặc công nghiệp chế biến ở mức độ thấp, hàm lượng khoa học kỹ thuật không đang kể, năng lực cạnh tranh thấp. Chính sách kinh tế không ổn định; văn bản luật và văn bản dưới luật còn chậm trễ; tính cục bộ cao ngay trong đội ngũ quản lý vĩ mô. Thực tế cho thấy nội lực còn yếu chưa bảo vệ được chính mình khi tham gia sân chơi toàn cầu. Vấn đang vấp phải 3 thắt nút trong quá quá tình phát triển là: kết cấu hạ tầng; chất lượng nguồn nhân lực; thể chế. Trong khi đó nhận thức về hội nhập còn chưa đầy đủ nảy sinh kỳ vọng quá lớn hoặc tâm lý khó khăn là do WTO. Vì vậy, cần phải nâng cao nội lực, coi WTO chỉ là phương tiện, Việt Nam cần sử dụng hiệu quả phương tiện để hội nhập.
4.3 Hội nhập trên một số lĩnh vực khác
4.3.1  Về chính trị
Hội nhập chính chính trị xã hội được hiểu là các liên kết liên quan đến vấn đề chính trị xã hội của các quốc gia thành viên theo những rằng buộc nhất định với các thành viên trong khối và với nước thứ 3. Biểu hiện rõ nhất của nó là những thay đổi trong thể chế, pháp luật ngày càng phù hợp với thị trường chung.
  Mỗi một hình thái nhà nước có phương thức sản xuất phù hợp với nó, ứng vào đó là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tương ứng. Đương nhiên sự khác biệt về đường lối chính trị dẫn đến đường lối chính sách trong quản lý và phát triển kinh tế xã hội cũng có những nét đặc trưng riêng. Thay đổi tương quan lực lượng và bản đồ chính trị thế giới đang có bước chuyển khôn lường. Thế giới nảy sinh nhiều vấn đề như đụng độ về sắc tộc, tôn giáo; nội chiến liên miên ở một số quốc gia; vấn đề li khai; chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Đặt ra vấn đề hợp tác chung của tất cả các quốc gia bảo vệ nền hòa bình thế giới. Hợp tác không chỉ dừng lại ở các quốc gia cùng thể chế chính trị mà giữa các quốc gia khác nhau.
  Hội nhập dẫn đến sự phụ thuộc qua lại lẫn nhau giữa các nước trên thế giới. Bất ổn định chính trị ở quốc gia này ắt hẳn sẽ gây nên nguy cơ bất ổn của các các nước láng giềng. Vấn đề li khai ở một quốc gia nếu phát triển mạnh mẽ sẽ tạo nên làn sóng li khai của các tổ chức khác. Vấn đề vũ khí hạt nhân, vũ khí sinh học cũng trở thành mối quan tâm chung. Các nước bắt tay với nhau trong các vấn đề chung này thông qua các tổ chức quốc tế để chung tay cùng bảo vệ thế giới. Ví dụ liên hợp quốc (UN), NATO (khối quân sự bắc Đại Tây Dương). Vai trò của Liên Hợp Quốc trong tiếng nói chung toàn cầu ngày càng tăng. Thể hiện thông qua vai trò gìn giữ hòa bình, ổn định chính trị, ngăn chặn chạy đua vũ trang, sản xuất vũ khí giết người hàng loạt, vũ khí hạt nhân, vũ khí sinh học; đấu tranh vì sự công bằng của tất cả các quốc gia, vì sự phát triển của các dân tộc; có thể can thiệp vào các công việc quốc tế quan trọng trong các lãnh thổ có tranh chấp và xung đột; kiềm chế sự chi phối của các cường quốc đối với các quốc gia trên thế giới…
  Hội nhập trong chính trị một mặt mang lại nhiều lợi ích song cũng phát sinh một số vấn đề đối với các nhóm nước khác nhau. Để đối phó với những hiểm hoạ an ninh từ chủ nghĩa khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia, và nhiều lý do khác, một số quốc gia phải tham gia cơ chế an ninh tập thể, nhưng chính việc này lại đặt các quốc gia vào tình thế bị suy giảm chủ quyền. Cộng đồng quốc tế có thể thông qua các quyết định tập thể, ít nhất là một sự thoả thuận chung do một nhóm nước có tiếng nói chi phối, khởi xướng để gây sức ép hoặc trực tiếp can thiệp vào công việc nội bộ của một nước theo kiểu lấy “mạnh chèn yếu”. Xâm phạm đến chủ quyền và tính độc lập dân tộc.
4.3.2 Về văn hóa xã hội
      Lịch sử văn hóa Việt nam trải qua 4 thời kỳ: Xây dựng nền tảng văn hóa, Bắc thuộc cộng sinh với văn hóa Ấn Độ - Trung Hoa, xây dựng văn hóa truyền thống, chuyển tiếp từ văn hóa truyền thống sang văn hóa hiện đại. Quá trình phát triển cho thấy văn hóa Việt Nam giao lưu hội nhập với văn hóa các nước khác trong khu vực tạo nên nền văn hóa đa dạng nhưng cũng đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong hội nhập và sự phát triển mạnh mẽ của giao lưu văn hóa trên thế giới giá trị tốt đẹp của văn hóa ngày càng được phổ biến rộng rãi. Nếu như trước kia chủ yếu hội nhập với văn hóa phương Đông thì ngày nay xu hướng xâm nhập và lan tỏa của văn hóa phương Tây như văn hóa trong lối sống như nhu cầu về thể thao giải trí, thưởng thức nghệ thuật bao gồm âm nhạc, điện ảnh,…
Các quốc gia cũng chung tay góp sức trong việc cùng nhau bảo vệ giá trị văn hóa trên mọi miền thế giới thông qua việc cùng tham gia các tổ chức, tự nguyện tham gia công ước, kí kết các thỏa thuận liên quan đến bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa chung của các nước thành viên. Lớn mạnh nhất đó là tổ chức giáo dục, khoa học, văn hóa UNESCO. Tổ chức đã có đóng góp lớn trong bảo vệ di sản về văn hóa, thiên nhiên trên khắp thế giới.
Điều này một mặt tạo nên sự đa dạng về văn hóa khắp mọi nơi trên thế giới mặt khác lại đặt ra vấn đề chống lại văn hóa “lai căng” và những “thói hư tật xấu” không phù hợp xâm lăng. Trong hội nhập kinh tế thế giới, cần nhận thức rõ trách nhiệm giữ vững và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, trách nhiệm phát triển một nền văn hóa tiên tiến, nhưng vẫn mang đậm tính dân tộc; đó là nhân tố quan trọng tạo nên động lực và phương pháp để phát triển kinh tế.
4.3.3  Hội nhập trong khoa học xã hội
         Hiện tại Việt Nam có quan hệ mở rộng với hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.  Quan hệ hợp tác trong nghiên cứu khoa học với các quốc gia và các tổ chức quốc tế ngày càng phát triển. Nếu như trước đây, trong quan hệ khoa học giữa Việt Nam và các nước trong khối xã hội chủ nghĩa chỉ là mối quan hệ viện trợ, sau đổi mới trở thành mối quan hệ 2 chiều với nhiều đối tác trên thế giới.
         Thông qua nghiên cứu và trao đổi giáo dục, gia tăng nhanh số lượng cán bộ đi học tại nước ngoài tạo điều kiện nâng cao trình độ nguồn nhân lực, đội ngũ nghiên cứu. Tuy nhiên, hội nhập trong nghiên cứu khoa học xã hội và giáo dục của Việt Nam còn nhiều thách thức. Đó là nguy cơ tụt hậu trong nghiên cứu thể hiện ở chất lượng nhân lực và tính ứng dụng của nghiên cứu. Xuất bản phẩm trong nước nhiều nhưng xuất bản phẩm quốc tế rất thấp. Hoạt động nghiên cứu và đào tạo chưa gắn kết thực sự với nhau mà biểu hiện rõ trong nhiều năm qua là tách rời các viện nghiên cứu và các trường đại học. Nghiên cứu trong khoa học xã hội đang xa rời các chuẩn mực quốc tế, tính ứng dụng chưa cao. Câu hỏi quan trọng nhất về mô hình phát triển, các lý luận về kinh tế tri thức, thể chế, hội nhập giữ gìn bản sắc … vẫn chưa có câu trả lời.
         Như vậy, để có thể hội nhập với khoa học xã hội, giáo dục thế giới Việt Nam cần phải thích ứng thay đổi. Trước hết xác định đúng đối tác, lĩnh vực hợp tác trong nghiên cứu, gắn kết hoạt động nghiên cứu và đào tạo, tuân theo chuẩn mực và ưu tiên đầu tư hợp tác với các nhà khoa học danh tiếng trên thế giới. Hội nhập với các nhà nghiên cứu Việt Nam học đưa Việt Nam ra với thế giới.
4.3.4  Hội nhập trong pháp luật
         Trong quá trình hội nhập một vấn đề được đặt ra đó là vai trò của thể chế trong sân chơi toàn cầu. Điều này, yêu cầu các quốc gia tham gia phải có thay đổi trong  pháp luật  phù hợp với pháp luật quốc tế. Các quốc gia ký kết pháp luật quốc tế ở một số nước thì những điều ước quốc tế này mặc nhiên trở thành nội dung của pháp luật quốc gia mà trong đó bao giờ luật quốc tế cũng được ưu tiên áp dụng, ở một số quốc gia khác trong đó có Việt Nam điều ước quốc tế này sẽ được nội luật hóa. Trong một số trường hợp quốc gia tham gia điều ước nhưng bảo lưu một số điều thì đương nhiên nó không được áp dụng cho các nước thành viên mới. Trong trường hợp Việt Nam  cơ chế thực hiện đảm bảo quyền con người là thách thức lớn. Quá trình hội nhập của Việt Nam cho thấy, cường độ hội nhập về pháp luật là rất cao, tuy nhiên chất lượng chưa cao. Nhiều chỗ còn có biểu hiện chắp vá trong khi tư tưởng bảo thủ tư duy cũ kỹ về pháp luật nói chung và luật kinh tế nói riêng vẫn còn tồn tại.



5.Kết luận
Thứ nhất trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay, việc tham gia các tổ chức thế giới và khu vực là một yêu cầu tất yếu đối với mỗi quốc gia, dân tộc trên con đường phát triển. Hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề mấu chốt, bên cạnh hội nhập trong lĩnh vực cụ thể chính trị, văn hóa, pháp luật, thể chể, ngôn ngữ, con người, giáo dục, khoa học công nghệ và khoa học xã hội. Hội nhập chính trị đặt ra vấn đề bảo tồn chủ quyền, hội nhập văn hóa đặt ra vấn đề văn hóa lai căng, hội nhập pháp luật cần thúc đấy nhanh chóng hơn nữa nhất là trong giai đoạn nội luật hóa. Hội nhập ngôn ngữ đứng trước vấn đề làm trong sáng tiếng việt cũng như nguy cơ biến mất của một số ngôn ngữ của các dân tộc ít người. Hội nhập khoa học công nghệ và khoa học xã hội nhìn chung còn yếu kém chưa theo chuẩn nào của thế giới, cần phải gắn kết giữa nghiên cứu và giảng dạy.
Thứ hai trong lĩnh vực kinh tế hội nhập, thời điểm Việt Nam hội nhập ngay trước các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Mặc dù, có tận dụng được cơ hội và đạt được một số thành tựu nhất định trong tăng trưởng kinh tế và ngoại thương xong kinh tế Việt Nam sau hội nhập còn nhiều vấn đề về cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu ngành công nghiệp, hàm lượng chất xám trong mặt hàng xuất khẩu nói riêng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung. Vấn đề đặt ra trước tiên là tái cấu trúc nền kinh tế.
Thứ ba trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay khi mà bản đồ chính trị và đối trọng thế giới đang có nhiều thay đổi với vai trò của một số quốc gia Châu Á đang lên thì Việt Nam với vai trò là một nước nhỏ cần phải có bước đi thận trọng hơn nữa trong bàn cờ chính trị thế giới.
Như vậy, hội nhập đặt ra cơ hội cũng như thách thức lớn cho các quốc gia. Việc có phát triển kinh tế quốc gia được hay không phụ thuộc lớn vào bản thân vấn đề quản lý vĩ mô nền kinh tế, việc hoạch định chiến lược và sự năng động của quốc gia đó ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh. Vừa hòa nhập vừa đấu tranh để phát triển.



Tài liệu tham khảo
1.      Đỗ Đức Bình, 2007, Giáo trình kinh tế quốc tế, NXB Giáo Dục, Hà Nội.
2.      Nguyễn Văn Hiệu, 2011, Khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam trong thời hội nhập: Trường hợp ngành văn hóa học, Khoa học xã hội thời kỳ hội nhập, NXB ĐHQG TP. HCM.
3.      Đặng Văn Phan, 2006, Địa lí kinh tế xã hội thời kì hội nhập, NXB giáo dục, Hà Nội.
4.      Nguyễn Xuân Thắng, 2007, Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đối với tiến trình Công nghiệp hóa Hiện đại hóa ở Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội.
5.      Võ Thị Thanh Thu, 2008, Quan hệ kinh tế quốc tế, NXB thống kê, Hà Nội
6.      Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương CIEM, 2010, Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với nền kinh tế sau ba năm Việt Nam gia nhập WTO.

........................................................................................................................
*: Bài viết kết thúc lớp bồi dưỡng kiến thức hội nhập -Vass

17 thg 10, 2012

Tăng trưởng và phát triển vùng kinh tế & phân vùng kinh tế ở vIệt Nam



TỔNG QUAN LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG KINH TẾ, CÁC PHƯƠNG ÁN PHÂN VÙNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM*
                                                                        
1.      Giới thiệu
Phân vùng kinh tế ở Việt Nam ảnh hưởng từ tổ chức lãnh thổ kinh tế xã hội ở Liên Xô cũ cũng như từ các lý thuyết kinh tế ở phương Tây. Theo đó các vùng kinh tế hiện nay là sản phẩm của quá trình tổ chức lãnh thổ kinh tế xã hội trong nhiều giai đoạn. Quá trình này đòi hỏi xem xét đến nhiều lý thuyết kinh tế[1]. Bài viết chỉ tổng quan một số lý thuyết cơ bản được ứng dụng trong tổ chức lãnh thổ vùng kinh tế. Ngoài ra, nội dung cũng chỉ ra những thay đổi trong các phương án phân vùng kinh tế ở Việt Nam từ những năm giữa của thế kỷ XX, và mô hình hóa sự khác nhau trong các phương án phân vùng hiện tại.
2.      Một số khái niệm
2.1.  Tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là khái niệm sử dụng trong kinh tế học nhằm diễn tả sự gia tăng của lượng hàng hóa và dịch vụ (GDP) trong một thời gian nhất định, bao hàm cả gia tăng về tổng lượng (theo chiều rộng) và lượng bình quân đầu người (chiều sâu). Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc và các yếu tố đầu vào (nguồn lực) chính như: vốn, nhân lực, công nghệ, tài nguyên, cơ chế. Một khái niệm nữa thường được nhắc đến khi bàn về tăng trưởng kinh tế đó là chất lượng tăng trường, được đánh giá từ hiệu quả việc sử dụng nguồn lực vào tăng trưởng kinh tế, cũng như đóng góp của nguồn lực vào gia tăng tăng trưởng kinh tế theo thời gian.
Phát triển trên quan điểm biện chứng là “dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện”,“ kết quả của quá trình biến đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất[2], là xu thế tất yếu của quá trình vận động của sự vật hiện tượng trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định. Quá trình phát triển phụ thuộc trước hết ở mâu thuẫn nội tại của bản thân nó, thứ hai phụ thuộc vào các tác nhân bên ngoài tác động vào quá trình này.
Sự phát triển đôi khi được đồng nghĩa với phát triển kinh tế (thể hiện rõ sự thay đổi về lượng), nhưng thực ra trong đó là thể hiện về công bằng, tiến bộ xã hội. Thực tiễn cho thấy nhận thức về sự phát triển đã trải qua nhiều giai đoạn ngày càng hoàn thiện hơn. Theo đó sự phát triển đã đi theo con đường từ phát triển đồng bộ, phát triển cân đối đến phát triển bền vững (Vịnh, 2005, tr.12-20). Trong quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế có một ý nghĩa to lớn đặc biết đối với các quốc gia đi sau (Tùng, 2002, tr.29). So với khái niệm tăng trưởng kinh tế muốn nhấn mạnh đến mặt định lượng thì khái niệm phát triển quan sát rõ hơn về các mặt chất lượng. Xem xét đến phát triển bền vững, đề cập đến việc phát triển trên cả 3 khía cạnh môi trường, kinh tế, xã hội và đảm bảo sự công bằng giữa các thế hệ thì tăng trưởng kinh tế chỉ là một phần trong mục tiêu kinh tế[3]. Nếu nhấn mạnh tăng trưởng, cần phải tạo đà trên các yếu tố khác, việc này có thể làm giảm đáng kể nguồn tài nguyên, tăng cường phát thải vào môi trường, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, hạn chế khả năng tiếp cận của nhóm nghèo tiền ẩn bất ổn định và xung đột chính trị.
2.2.  Vùng kinh tế
   Có nhiều quan niệm về vùng, dưới góc độ lãnh thổ, “vùng là một lãnh thổ tương đối đồng nhất bao gồm các bộ phận cấu thành có mối liên hệ chặt chẽ với nhau đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của bản thân lãnh thổ đó cũng như giữa nó và các lãnh thổ khác” (Thông, 2006, tr.5). Vùng có thể có nhiều loại khác nhau theo tùy theo mục đích phân vùng. Có các loại vùng như vùng kinh tế, vùng tự nhiên, vùng sinh thái.
           Dưới góc độ kinh tế, vùng là một bộ phận lãnh thổ của nền kinh tế kinh quốc dân, có cơ cấu khá phức tạp và tổng hợp, có thể hoạt động một cách độc lập (tuy rằng tất nhiên trong hầu hết các trường hợp thực tế, các vùng luôn có mối quan hệ chặt chẽ và hữu cơ với các vùng còn lại của nền kinh tế) (Hoa, 2007, tr.10). 
          Theo từ điển Bách khoa Xô Viết năm 1988 “Vùng kinh tế được đặc trưng bởi các điều kiện tự nhiên, kinh tế và chuyên môn hóa sản xuất trên cơ sở phân công lao động địa lý cũng như bởi các mối liên hệ kinh tế nội vùng ổn định. Vùng kinh tế là một khâu cơ bản trong việc tổ chức lãnh thổ nền sản xuất xã hội, là đối tượng chủ yếu của chính sách vùng và kế hoạch hóa lãnh thổ” (Thông, 2006, tr.9). Ở Ba Lan với xu hướng thay đổi để hội nhập tiếp cận “vùng kinh tế là một lĩnh vực xã hội tổng thể được tạo bởi các công ty, các thể chế cũng như các bản sắc và các tác nhân trong vùng”. Trong khi đó, ở Canadda vùng kinh tế đơn giản là nhóm các đơn vị dân cư nguyên vẹn để tạo thành một đơn vị hành chính địa lý chuẩn mực phục vụ cho việc phân tích và hoạt động kinh tế vùng”. (Nga, 2012)
          Trong phát triển kinh tế xã hội việc quy hoạch phát triển lãnh thổ là vấn đề mấu chốt. Nó được hiểu là “việc sắp xếp và phối hợp các đối tượng trong mối liên hệ liên ngành, liên vùng nhằm sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lý kinh tế, chính trị và cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm đem lại hiệu quả kinh tế- xã hội và nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát triển bền vững” (Vịnh, 2005, tr.366). Từ góc độ này phân cấp không gian kinh tế xã hội thành các vùng lớn, tiểu vùng thuận tiện cho quá trình hoạch định chính sách.
          Như vậy, ở đây, vùng kinh tế với tư cách là một hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế xã hội được định hình dựa vào các đặc trưng về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và dân cư của bản thân lãnh thổ đó đặt trong mối liên hệ về không gian với các lãnh thổ khác. Việc kiến thiết lãnh thổ không nằm ngoài mục tiêu sử dụng hiệu quả các nguồn lực nội vùng, liên kết với tiềm lực ngoại vùng đạt hiệu quả  cao nhất về kinh tế, và tính bền vững.
          Việc hình thành các vùng khác nhau là do các nhóm nhân tố tạo vùng bao gồm: vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội. Trong đó, các nhân tố vị trí địa lý được xem như nhân tố cá biệt hóa; các nhân tố tự nhiên tạo tiền đề vật chất cho sự phát triển vùng; dân số là nhân tố quan trọng; công nghệ được xem như có vai trò quyết định đến sự phát triển của vùng. Song song với nó các nhân tố bên ngoài cũng có tác động mạnh đến quá trình này thông qua các mối liên kết. Phân công lao động theo lãnh thổ có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nội vùng cũng như tạo nên các mối liên kết với bên ngoài. Ban đầu khi lực lượng sản xuất chưa phát triển, sản xuất mang tính tự cấp tự túc, mối liên kết với bên ngoài con yếu, dần dần quá trình này chuyển sang nền sản xuất hàng hóa gắn với chuyên môn hóa, hợp tác hóa trong sản xuất. Phân công lao động ở mức độ cao tăng tính phụ thuộc lẫn nhau trong nội vùng và với vùng khác. Như vậy,các vùng chuyên môn hóa càng cao thì mức độ liên kết càng sâu rộng, điều này thể hiện cả trong nội và ngoại vùng.
3.      Các lý thuyết sử dụng trong phân vùng kinh tế
3.1.  Vành đai nông nghiệp của Von Thunen (1883)
Mô hình phát triển theo vành đai nông nghiệp của Thunen nhằm sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp của nông dân, coi địa tô chênh lệch là một nhân tố quan trọng dẫn đến sự phân chia lãnh thổ sản xuất nông nghiệp. Mô hình này coi các thành phố, trung tâm có sức hút với các hoạt động nông nghiệp xung quanh. Tính toán khoảng cách phân bổ của các sản phẩm nông nghiệp với trung tâm theo một tỷ lệ nhất định nhằm tối ưu hóa lợi nhuận. Theo đó ông xây dựng các vành đai sản xuất nông nghiệp xung quanh đô thị trung tâm từ nhân ra bao gồm: vành đai thực phẩm; vành đai lương thực thực phẩm; vành đai cây ăn quả, lương thực; vành đai lương thực chăn nuôi; vành đai lâm nghiệp. Các vành đai nông nghiệp không tròn đều, có ranh giới ước lệ phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên.
   Lý thuyết này cũng gặp nhiều ý kiến phê bình, nó có thể bị phá vỡ bởi sự phát triển của công nghiêp hóa và tính chuyên môn hóa trong hoạt động sản xuất. Trong khi đó mô hình cũng không tính đến sự khác nhau về phương tiện vận tại, “không xem xét ảnh hưởng chi phí của các thiết bị vận chuyển (như máy cày) đến nơi sản xuất” (Carl, 1920, tr.xx). Điều này được cho là thiếu sót so với thuyết định vị công nghiệp của Weber, nhưng tất nhiên, hai lý thuyết này trả lời câu hỏi về các vấn đề hoàn toàn khác nhau. Một hạn chế khác của Thunen trong lý thuyết của ông đó là áp dụng cho nhóm sản phẩm nông nghiệp (Carl, 1992 tr.xxi). Tuy nhiên, do tính phổ quát cao mà nó vẫn được tính đến trong phân vùng nông nghiệp.
3.2.  Thuyết định vị công nghiệp của Alfred Weber (1909)
Giống như Thunen, Weber coi thành phố là các trung tâm tạo lực hút cho lãnh thổ. Sự phân bố của các khu vực sản xuất xung quanh đều phục vụ cho nhu cầu của trung tâm.
Weber xem xét đến chi phí lao động, và trong khi Thunen trả lời câu hỏi kiểu sản xuất nào sẽ là tốt nhất tại những nơi nhất định thì Weber đi tìm điều gì làm cho một ngành công nghiệp di chuyển địa điểm. (Cral, 1920, tr.xxi)
Lý thuyết định vị của A.Weber xét đến 3 yếu tố trong khi tìm vị trí của một ngành công nghiệp đề giảm chi phí vận tải và lao động: địa điểm vận chuyển tối ưu giảm chi phí vận tải; thuận lợi về nguồn lao động giá rẻ có thể đực ưu tiên hơn so với khoảng cách vận chuyển xa hơn; tích tụ và tập trung công nghiệp (tạo dựng các liên hợp sản xuất trên lãnh thổ).  Trên cơ sở xác định nguyên tắc "cực tiểu hoá chi phí, cực đại hoá lợi nhuận" A.Weber đưa ra mô hình không gian về phân bố công nghiệp.
3.3.  Phát triển cực trung tâm của Walter Chirstaller (1933)
Cũng giống như Thunen và Weber, Christaller cho rằng nông thôn chịu sức hút mạnh từ các thành phố, đô thị trung tâm.  Trong lý thuyết của mình Christaller đi tìm câu hỏi về sự cần thiết trong việc quy định kích thước, số lượng và sự phân bố của các thị trấn. Ông đưa ra mô hình lý thuyết về các điểm trung tâm kết hợp với các nút và liên kết trong một giả thuyết lý tưởng. Mô hình này dựa trên tiền đề là tất cả hàng hóa và dịch vụ được mua bởi người tiêu dùng từ điểm trung tâm gần nhất, và như vậy cần giải quyết vẫn đề của điểm trung tâm. Ông đề xuất mô hình khu định cư đô thị theo thứ bậc với mô hình sắp xếp lục giác, theo đó các trung tâm cấp cao sẽ tạo ra lực hút mạnh nhất tới tiêu thụ của dân cư hơn là các trung tâm cấp thấp hơn.
Bên cạnh đó, ông cũng đưa ra khái niện liên quan đến trung tâm, ngưỡng, phạm vi, tính trung tâm. Theo đó sức hút của trung tâm có ngưỡng và có phạm vi, việc tiêu thụ và cung ứng dịch vụ ngoài bán kính tiêu thụ là không có lợi ích kinh tế. Christaller đưa ra 3 nguyên tắc trong phân cấp và bố trí khu định cư đô thị hợp lý là: tiếp thị; giao thông vận tải; hành chính.
Sau đó mô hình của Christaller đã được Kosch (nhà kinh tế người Đức) phát triển và xây dựng mô hình theo cấu trúc hành chính và nền sản xuất ngược với Christaller theo kiểu hình nêm. Thuyết này chứng tỏ rằng mỗi khu định cư đô thị được tổ chức tại chỗ trong một hệ thống các thành phố và bất kỳ thay đổi nào được xác định ở một vị trí nào đó diễn ra trong hệ thống (Heibrun, 1987). Cũng có ý kiến chỉ trích mô hình của Christaller mang tính tĩnh, không có tính động.
3.4.  Phát triển cực của Francoi Perroux (1949)
F.Perroux quan tâm đến những thay đổi trong phạm vi lãnh thổ dẫn đến sự phân hóa và phát sinh cực tăng trưởng. Ông quan niệm sự phát triển vùng không thể đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ mà trong quá trình phát triển sẽ có xu hướng phân hóa, một số mới với điều kiện thuận lợi sẽ phát triển hơn các nơi khác, thậm chí có nơi trì trệ, kém phát triển.
Thông qua nghiên cứu chuỗi đô thị của Pháp ông quan niệm các đô thị là các cực. Các cực tạo thành một hệ thống có sức lan tỏa với các vùng lân cận và có sự tương tác với nhau. Trong hệ thống đó có các đô thị đã phát triển gọi là cực phát triển, có các đô thị đang trong quá trình phát triển gọi là các cực tăng trưởng. Như vậy, các cực phát triển là các cực tương đối hoàn thiện và khá ổn định về chức năng và quy mô, trong khi đó các cực tăng trưởng đang trong quá trình hoàn thiện về chức năng cũng như ổn định về quy mô. Các cực tăng trưởng này bị ảnh hưởng nhiều bởi các cực phát triển. Căn cứ vào đặc điểm của các cực này mà người ta tiến hành kiến thiết lãnh thổ để tạo sự phát triển hài hòa nhất bằng việc đặt thêm một đô thị mới trong hệ thống. Các cực phát triển có vai trò quan trọng trong tạo lực hút về lao động, sản xuất hàng hóa và dịch vụ, nói cách khác, các cực phát triển như những động lực kéo theo sự phát triển của các cực tăng trưởng.
Sau này các học giả Mỹ phát triển rộng hơn khái niệm cực tăng trưởng thành cực trung tâm. Hirschmann đưa ra khái niệm tăng trưởng bất công bằng, theo đó đầu tư tốt nhất là vào các trung tâm tăng trưởng chứ không phải là phân tán ra xung quanh bằng một quan niệm mơ hồ về “cân bằng” hoặc “bình đẳng”. (Hirschmann, 1958[4])
3.5.  Một số mô hình tăng trưởng
Mô hình tăng trưởng dựa vào nội lực
Mô hình phát triển dựa vào nội lực chú trọng đến các nguồn lực bên trong của lãnh thổ bao gồm tài nguyên thiên nhiên, con người, vốn, khoa học công nghệ để phát triển vùng. Các đại biểu có nó là C. Clark (1940) và G.B. Fisher (1939), hai ông bàn về sự thay đổi cơ cấu kinh tế theo ngành trong quá trình phát triển vùng liên quan đến sự thay đổi của lực lượng lao động.
Mô hình tăng trưởng dựa vào ngoại lực
Ngược lại với mô hình trên, mô hình tăng trưởng dựa vào ngoại lực đề cao ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài vào quá trình phát triển của bản thân vùng. Mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu (ELG) đi kèm với chiến lược thay thế hàng nhập khẩu (ISI), hướng vào khai thác các lợi thế của vùng so với vùng khác, coi xuất khẩu thu ngoại tệ là vấn đề cốt lõi để tăng trưởng. Mô hình này bắt đầu được áp dụng ở một số nước đang phát triển từ giữa những năm 60.
Trong quá trình tổ chức lãnh thổ kinh tế xã hội, hay quy hoạch các vùng người ta thường hay áp dụng lý thuyết của Christaller và Perroux để nghiên cứu và phát triển các đô thị mới trong hệ thống hành chính đã có sẵn; hoàn thiện các chùm, chuỗi đô thị hình thành các trung tâm phát triển quan trọng của lãnh thổ. Ngoài ra, người ta cũng tính  đến các mô hình phát triển: mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu, mô hình phát triển phi cân đối, mô hình phát triển dựa vào nội lực.
4.      Các phương án phân vùng kinh tế ở Việt Nam
Việt Nam bắt đầu tiến hành phân vùng từ thời kháng chiến chống Pháp với phương án: 3 kỳ từ trước cách mạng tháng 8; sau đó chia làm 3 bộ;  9 khu hành chính – kháng chiến (1946-1954) tuy nhiên đây chủ yếu là phân giới hành chính phục vụ cho mục đích quân sự. Từ sau những năm 60 của thế kỷ XX Việt Nam bắt đầu có vùng kinh tế với nhiều phương án các cấp phân vị khác nhau. Ở đây chú ý đến sự phân vùng kinh tế theo 2 nghĩa: vùng kinh tế xã hội tổng hợp, vùng kinh tế ngành.
Vùng kinh tế xã hội tổng hợp: vùng này được phân chia trên quan điểm quan sát tổng hợp tất cả các yếu tố tham gia, được coi như hệ thống kinh tế xã hội theo lãnh thổ có cơ cấu ngành kinh tế đa dạng, phức tạp. Vùng kinh tế trọng điểm với tư cách là các địa bàn chiến lược, với nhiều lợi thế so sánh, có khả năng phát triển nhanh, tạo động lực cho các vùng khác phát triển.
Vùng kinh tế ngành bao gồm: dựa trên các yếu tố đầu vào của mỗi ngành mà có các vùng kinh tế ngành khác nhau: vùng nông nghiệp (hay còn gọi là vùng sinh thái nông nghiệp); vùng công nghiệp, vùng du lịch.
Sau đây lược sử một số phương án phân vùng ở Việt Nam
-            Năm 1960, GS Trần Đình Gián đưa ra phương án 2 vùng với mục đích phân vùng hành chính tỉnh bao gồm: Miền Bắc (Tây Bắc, Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ); Miền Nam
-            Năm 1964, Ủy ban kế hoạch nhà nước (Bộ nông nghiệp) đưa ra phương án 4 vùng nông nghiệp: Tây Bắc; Đông Bắc; Đồng bằng sông Hồng ; khu bốn cũ (từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh)
-            Năm 1976, ở Hội nghị lần 25 Ban chấp hành TW Đảng, Viện phân vùng quy hoạch Trung ương đưa ra phương án 8 vùng kinh tế tổng hợp: Đồng bằng và trung du Bắc Bộ; Quảng Ninh; Tây Bắc Bắc Bộ; Cao bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái; Thanh Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên; Tây Nguyên; Duyên hải miền Trung; Đông Nam Bộ; Đồng bằng sông Cửu Long
-            Năm 1977, Ban chỉ đạo phân vùng Nông nghiệp đưa ra phương án 7 vùng nông lâm nghiệp Trung du miền núi phía Bắc (1); Đồng bằng sông Hồng (2); Khu bốn cũ (Bắc Trung Bộ) (3); Duyên hải Nam Trung Bộ (4); Tây Nguyên (5); Đông Nam Bộ (6); Đồng bằng sông Cửu Long (7). (Xem hình 1)
-            Sau 1980 đến năm 1986 có nhiều phương án phân vùng được đưa ra:
o    Đại học sư phạm đưa ra phương án 2 vùng: Bắc Bộ và Nam Bộ
o    Đại học Kinh tế quốc dân đưa ra phương án 4 vùng kinh tế tổng hợp: Vùng Bắc Bộ; Vùng Thanh Nghệ Tĩnh; Quảng Nam, Đà Nẵng, Đắc Lắk, Phú Khánh; Thuận Hải, Lâm Đồng, Sông Bé trở vào Nam
o    Ban Địa lý - Ủy ban Khoa học xã hội đưa ra phương án 5 vùng: Bắc Bộ; Bắc Trung Bộ; Trung Bộ và Bắc Tây Nguyên; Nam Tây Nguyên; Nam Trung Bộ và Nam Bộ
o    Tác giả Nguyễn Xuân Ngọc (Ủy ban phân vùng kinh tế Trung ương) đưa ra phương án 4 vùng: Bắc Bộ (Trung du miền núi phía Bắc , Đồng Bằng sông Hồng); Bắc Trung Bộ; Nam Trung Bộ (Tây Nguyên, duyên hải khu 5); Nam Bộ (Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long)
-            Sau năm 1986 Bộ kế hoạch và đầu tư đưa ra phương án 6 vùng kinh tế tổng hợp[5]: Đông Bắc (cả Quảng Ninh)(1); Đồng bằng sông Hồng (3); Tây Bắc (2); Bắc Trung Bộ (4); Duyên hải Nam Trung Bộ (5); Tây Nguyên (6); Đông Nam Bộ (cả Ninh Thuận và Bình Thuận) (7); Đồng bằng sông Cửu Long (8) (xem hình 2)
-            Năm 1995 phương án vùng Du lịch[6] với 3 vùng Bắc Bộ (4 tiểu vùng: trung tâm, duyên hải Đông Bắc, Miền núi Đông Bắc, Miền núi Tây Bắc); Bắc Trung Bộ; Nam Trung Bộ và Nam Bộ (4 tiểu vùng: Nam Trung Bộ, Duyên hải, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ) (xem hình 1)
-            Năm 1997, để phát triển kinh tế theo các địa bàn động lực có phương án 3 vùng kinh tế trọng điểm: Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ[7]; Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam[8]; Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung[9] (Hình 3). Cho đến năm 2004 ranh giới các vùng này được mở rộng.
-            Năm 2006, viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp đưa ra phương án 6 vùng công nghiệp: Trung du miền núi phía Bắc; đồng bằng sông Hồng; ven biển Trung Bộ; Tây Nguyên; Đông Nam Bộ; Đồng bằng sông Cửu Long
 Như vậy: Trong lịch sử phát triển, Việt Nam có nhiều phương án phân vùng khác nhau tùy theo mục đích bao gồm vùng kinh tế tổng hợp và vùng kinh tế ngành. Do đặc điểm kinh tế xã hội mà các vùng nông nghiệp được chú trọng nhiều hơn, sớm hơn việc phân vùng kinh tế tổng hợp. Các vùng công nghiệp, vùng du lịch mới được chú trọng đi liền với công nghiệp hóa đất nước từ những năm 90 trở lại đây. Các vùng kinh tế trọng điểm có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển lãnh thổ.
Theo đó ranh giới các vùng có sự thay đổi do sự phát triển tất yếu khách quan mà chủ yếu là sự phân công lao động và chuyên môn hóa trong sản xuất. Lực hút của trung tâm với ngoại vi cũng là yếu tố quan trọng dẫn đến thay đổi của ranh giới vùng cũng như do chiến lược phát triển của quốc gia. Ví dụ như những bất đồng xung quanh việc xếp Thanh Hóa vào phân vùng nào giữa đồng bằng sông Hồng và Duyên hải miền Trung. Các ý kiến trái chiều cho rằng, Thanh Hóa chịu lực hút mạnh hơn từ trung Tâm Hà Nội, và tam giác tăng trưởng có thể kéo xuống cảng Nghi Sơn của Thanh Hóa chứ không chỉ là Quảng Ninh- Hà Nội- Hải Phòng (Vịnh[10], 2009).
            Các phương án phân vùng dựa trên đánh giá hiện trạng và dự báo phát triển của vùng phù hợp với phân công lao động theo lãnh thổ, đặc điểm nguồn nhân lực, mức độ chuyên môn hóa sản xuất theo trình độ khoa học công nghệ.  

Phân vùng sinh thái nông nghiệp ưu tiên đến các ranh giới tự nhiên nguyên nhân của phân kiểu khí hậu. Phân vùng du lịch ưu tiên đến số lượng chất lượng và sự phân bố của các tài nguyên du lịch nhân văn và tự  nhiên trên lãnh thổ. Ranh giới nhìn chung thay đổi không nhiều, đáng chú ý là phương án phân vùng công nghiệp giống với phương án vùng kinh tế tổng hợp.




5.      Kết Luận
            Quan niệm vùng kinh tế ở Việt Nam gắn với tổ chức lãnh thổ kinh tế xã hội, trên cơ sở chủ quan hóa các yếu tố khách quan về tự nhiên, con người, khoa học công nghệ.
Sự tăng trưởng và phát triển vùng cũng như sự phân vùng gắn với một số lý thuyết kinh tế. Tùy theo điều kiện của vùng mà có thể lựa chọn phương án phát triển dựa vào nội lực, hay tăng trưởng dựa vào ngoại lực. Tuy nhiên, sự phát triển của bản thân vùng kinh tế bao giờ cũng có các động lực thúc đẩy và các vùng bị ảnh hưởng. Tạo mối liên kết nội vùng và ngoại vùng gắn liền với quá trình chuyên môn hóa và hợp tác hóa trong sản xuất cũng như quá trình phân công lao động theo ngành và theo lãnh thổ.
Lịch sử phân vùng kinh tế ở Việt Nam thể hiện tính đa phương án và tính chủ quan. Ranh giới các vùng thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của nội vùng cũng như các liên kết ngoài vùng. Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định cần xây dựng phương án tối ưu sử dụng hiệu quả nguồn lực đảm bảo sự phát triển bền vững.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.      Pragya Agarwal, 2011, Walter Christaller hierarchical patterns of urbanization, 2011, Center for Spatially Intergrated social science, University of California, http://www.csiss.org/classics/content/67/
2.      Carl Joachim Friendrich, (1920) Alfred Weber`s theory of the location of industries, The university of Chicago press Chicago, Ilinois. USA.
3.      David Darwent, 1969, Growth poles and growth centers in regional planning – a review, Environment and Planning, vol. 1 (1969), pp.5-32 http://www.sjsu.edu/faculty/watkins/poles.htm
4.      David Fearon, 2011, Alfred Weber Theory of the Location of Industries 1909,  Center for Spatially Intergrated social science, University of California
6.      Phạm Xuân Hậu, 2002, Giáo trình Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam, Đại học sự phạm TP Hồ Chí Minh http://kmacle.duytan.edu.vn/Upload/file/giao%20trinh%20dia%20kinh%20te%20VN.pdf
7.      Lê Thu Hoa, 2007, Kinh tế vùng ở Việt Nam, từ lý luận đến thực tiễn, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.
8.      Hà Hữu Nga, 2012,  Khoa học vùng là lý thuyết vùng kinh tế, http://kattigara-echo.blogspot.com/2012/09/khoa-hoc-vung-va-ly-thuyet-vung-kinh-te_9865.html
9.      Đặng Văn Phan, 2006, Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ hội nhập, Nxb Giáo dục, Hà Nội
10. Lê Thông, 2006, Địa lý ba vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Hà Nội
11. Trần Văn Tùng (chủ biên) Nguyễn Trọng Hậu 2002, Mô hình tăng trưởng kinh tế, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội.
12. Ngô Doãn Vịnh, 2005, Bàn về phát triển kinh tế nghiên cứu con đường dẫn tới giầu sang, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
13. Ngô Doãn Vịnh, 2009, Tổ chức lãnh thổ kinh tế xã hội một số vấn đề lý thuyết và ứng dụng, (Tài liệu phục vụ nghiên cứu cho các ứng viên dự thi nghiên cứu sinh và thực hiện luận án tiến sỹ chuyên ngành Địa lý học)
14. Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp, 2006, Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam, Hà Nội.
15. Johann Heinrich Von Thunen
16. Tổng quan về quá trình hình thành vùng kinh tế trọng điểm http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungvungkinhtetrongdiemquocgia?articleId=10000721




[1] Nổi tiếng là lý thuyết tăng trưởng kinh tế cố điển của Adam Smith, David Ricardo; lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại của Maynard Keynes, Simon Kuzets, Eward Emision.
[2] Giáo trình Triết học Mac Lê nin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
[3] Phát triển bền vững về mặt kinh tế cần đảm bảo ba mặt bao gồm quy mô, tăng trưởng và cơ cấu theo ngành và theo lãnh thổ. Phát triển kinh tế ổn định, cơ cấu kinh tế hợp lý giữa công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, tăng trưởng kinh tế có chất lượng.

[4] Xem thêm trong: Hà Hữu Nga, Khoa học vùng và lý thuyết vùng kinh tế, http://kattigara-echo.blogspot.com/2012/09/khoa-hoc-vung-va-ly-thuyet-vung-kinh-te_9865.html (Trích đề tài khoa học cấp bộ Nghiên cứu cơ sở lý thuyết cho việc xác định các ưu tiên trong phát triển bền vững vùng kinh tế, 2009)
[5] Ranh giới các vùng được thay đổi năm 2006 theo 92/NĐ-CP/07/09/2006
[6] Xem thêm ở Địa lý ba vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam, Lê Thông, 2006, tr.19
[7] Năm 2003 có bổ sung các tỉnh theo thông báo số 108/TB-VPCP ngày 30/07/2003
[8] Năm 2003 có bổ sung các tỉnh theo  thông báo số 99/TB-VPCP ngày 02/7/2003

[9] Năm 2004 có bổ sung các tỉnh theo các Quyết định số145, 146, 148/2004/QĐ-TTg ngày 13/08/2004
[10] Tài liệu của PGS.TS Ngô Doãn Vịnh, Viện Chiến lược và phát triển

Bài hội thảo "Liên kết vùng trong bối cảnh hội nhập và phát triển" Đoàn TNCS HCM - VASS

Tên bài viết so với nội dung bài viết đã được nhận xét là "Tác giả đặt ra một số vấn đề và lĩnh vực rất lớn không chỉ đối với Việt Nam và cả Thế giới nữa, vì vậy cần có một thời gian dài, với nhiều nguồn lực thì mới mong giải quyết phần nào các vấn đề/lĩnh vực đặt ra trong bài viết."